Showing posts with label Nghệ Thuật Quản Lý. Show all posts
Showing posts with label Nghệ Thuật Quản Lý. Show all posts

Ê KÍP LÃNH ĐẠO


I Một số thuật ngữ cần quan tâm
1. Lãnh đạo
           
Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong khoa học về tổ chức - nhân sự. Theo thống kê từ năm 1981 cho đến nay, có hơn 5.000 công trình nghiên cứu về khái niệm lãnh đạo từ rất nhiều các khía cạnh, các lãnh vực khác nhau trong đời sống xã hội. Đây là một trong những đề lài nghiên cứu rộng lớn nhất trong Tâm lý học, đặc biệt là Tâm lý học công nghiệp và tổ chức.
            Để minh họa rõ hơn, sau đây xin nêu một vài khái niệm về sự lãnh đạo trong các công trình nghiên cứu

            - “Lãnh đạo là dìu dắt và điều khiển công việc của một tổ chức để đạt được những mục tiêu mong muốn” (Jonh D. Millet)
            -“ Lãnh đạo là hoạt động có ảnh hưởng đến người khác nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định, mà những mục tiêu này thỏa mãn được những mong muốn của mọi người” (Ordway Tead).
            - Lãnh đạo là sự vận dụng quyện lực, là sự định hướng, dẫn dắt và kiểm tra người khác trong hoạt động quản lý.
            - Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong khoa học về tổ chức - nhân sự. Đó là một quá trình ảnh hưởng mang tính xã hội trong đó lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu của tổ chức…
2.         Ê kíp
           
Ê kíp là một khái niệm vẫn chưa được dùng phổ biến ở nước ta hiện nay. Vì vậy, khi nhắc đến thuật ngữ ê kíp, người ta thường nghì đến ý nghĩa tiêu cực nhiều hơn là tích cực. Người ta thường cho rằng ê kíp giống như “phe phái”, “bè cánh” của một số người kết hợp lại.
            Song dựa trên những nghiên cứu đã có, thuật ngữ ê kíp được phát biểu bằng những ý sau :
            - “Ê kíp là tập hợp một nhóm thợ thuyền cùng làm một công việc”. hay “Ê kíp là tập hợp các vận động viên cùng một đội tuyển” (Theo từ điền Larousse củ Pháp)
            - “Ê kíp là nhóm người làm việc ăn ý với nhau” (từ điền tiếng Việt)
            - “Ê kíp là một nhóm người được tổ chức ra, mỗi người một việc, phối hợp với nhau làm một nhiệu vụ chung” (Lê Tuấn Lộc)
Ê kíp là một loại nhóm nhỏ của những người cùng tiến hành một hoạt động chung, giữa các thành viên có sự tương hợp tâm lí cao và phối hợp hành động một cách chặt chẽ.
II         Ê kíp lãnh đạo  
            Ê kíp lãnh đạo là một loại ê kíp đặc biệc – ê kíp của những người lãnh đạo trong tổ chức. Ta có khái niệm về ê kíp lãnh đạo như sau : “ê kíp lãnh đạo là nhóm nhỏ của những người lãnh đạo một tổ chức cùng tiến hành một hoạt động quản lý, giũa họ có sự tương hợp tâm lý ca và phối hợp hành động chặt chẻ”.
            Vậy ta nhận thấy rằng, ê kíp lãnh đạo không phải là hiện tựng tiêu cực mà mọi người vẫn quan niệm rằng có sự liên kế “bè phái”, “vây cánh”. Vì vậy, một ê kíp lãnh đạo tốt có thể mang lại hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất.
            Sự khác nhau giữa ban lãnh đạo và một ê kíp lãnh đạo là mức độ tương hợp tâm lý và phối hợp hành động giữa các thành viên trong nhóm những người lãnh đạo. Và đó cũng là hai thành tố quan trọng trong một ê kíp lãnh đạo.
            Công việc lãnh đạo đòi hỏi phải có một êkip lãnh đạo, không có không được. một cá nhân không thể thực hiện được tất cả các hoạt động của doanh nghiệp, không thể tồn tại nếu chỉ có một mình. Có một êkip sẽ đảm bảo sự đồng thuận, đoàn kết để thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp. Nhìn chung, một êkip lãnh đạo phải thể hiện vai trò quyết định của mình trong doanh nghiệp, giống như bộ não của con người, êkip là bộ não của doanh nghiệp. một doanh nghiệp nếu không có một bộ não tốt thì làm sao doanh nghiệp đó có thể hoạt động. nếu êkip có vấn đề sẽ làm cho cả doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả và không tạo nên một doanh nghiệp thực thụ.
1.         Hai thành tố cơ bản của ê kíp lãnh đạo
            a) Tương hợp tâm lý của ê kíp lãnh đạo.
            Theo N N. Ôpozop cho rằng : “Tương hợp tâm lý là kết quả của sự kết hợp và tác động lẫn nhau giữa các cá nhân thể hiện sự hài long cao nhất giữa họ.
            Theo A V. Svenhisinxki cho rằng : “Tương hợp là sự thích ứng lẫn nhau của các cá nhân trong quá trình hoạt động chung nhằm tạo ra sự phối hợp hành động
            M. Moa lại xem tương hợp là sự thỏa mãn nhu cầu và các hành vi của các cá nhân trong nhóm.
            K K. Platonop cho rằng : “Tương hợp là sự lien kết giữa các cá nhân để tạo ra sự toàn vẹn và quá trình cấu kết bên trong của nhóm.
            * Như vậy khi nói đến sự tương hợp của nhóm là quá trình bên trong của nhóm – quá trình các cá nhân hòa hợp. Khi nói tới tương hợp tâm lý, ta nhắc đến hai khía cạnh : tương hợp tâm sinh lý và tương hợp tâm lý xã hội. Tương hợp tâm lý của ê kíp lãnh đạo là sự hòa hợp, thích ứng lẫn nhau và sự phối hợp tối ưu các đặc điểm tâm lý cá nhân để tạo ra sự thống nhất cao của ê kíp lãnh đạo.
            - Tương hợp Tâm sinh lý : Là tương hợp về các đặc điểm về thần kinh, tính cách, khí chất… giữa các thành viên trong ê kíp. Sự tương hợp tâm sinh lý giữa các thành viên của ê kíp lãnh đạo là sự kết hợp một cách hài hòa và có hiệu quả các đặc điểm của các khí chất và tính cách khác nhau của các cá nhân nhằm tạo ra hiệu quả cao hoạt động chung của toàn ê kíp. Đó là sự kết hợp giữa các mặt mạnh và mặt yếu của các khí chất và tính cách.
            - Tường hợp tâm lý xã hội : là sự tương hợp về động cơ, nhu cầu, mục đích, lợi ích, định hướng giá trị, sự hứng thú, phong cách làm việc, các đặc điểm tâm lý lứa tuổi. Khi nói đến sự tương hợp về động cơ giữa các thành viên trong ê kíp lãnh đạo là đề cập tới sự tương hợp về nhu cầu giữa họ.
            b) Phối hợp hành động của ê kíp lãnh đạo.
            Hoạt động quản lý của ê kíp lãnh đạo là sự phối hợp hành động một cách chặt chẽ giữa các thành viên. Sự phối hợp này tương tự như trong một dây chuyền sản xuất, nó thể hiện ở sự phối hợp đồng bộ, ăn khớp giữa các thành viên.
            Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình lãnh đạo, các thành viên trong ê kíp lãnh đạo phải làm việc một cách tự giác và có trách nhiệm cao. Đồng thời, sự phối hợp hành động tốt giữa các thành viên trong một ê kíp lãnh đạo thì sự phân công công việc trong ê kíp phải dựa trên năng lực, sở trường, sở đoản của mỗi người. Và một yếu tố nữa để tăng cường sự phối hợp hành động trong một ê kíp lãnh đạo là các thành viên phải có tinh thần kỹ luật cao. Có kỹ luật thì quá trình lao động mới có tổ chức, năng suất thu được sẻ cao và hiệu quả hơn.
            c) Mối quan hệ giữa tương hợp tâm lý và phối hợp hành động của ê kíp lãnh đạo
            Mối quan hệ giữa tương hợp tâm lý và phối hợp hành động của ê kíp lãnh đạo là hai yếu tố quyết định sự hình thành và tồn tại của một ê kíp lãnh đạo. Hai yếu tố này có sự quan hệ bỗ trợ cho nhau. Tương hợp tâm lý là tiêu đề, là điều kiện cho sự phối hợp hành động. Mặt khác, sự phối hợp hành động làm cho sự tương hợp tâm lý của các thành viên trong ê kíp lãnh đạo ngày càng phát triển.
            Có thể nói, sự tương hợp tâm lý là cái bên trong và sự phối hợp hành động là cái bên ngoài, cái hình thức của ê kíp lãnh đạo. Đây là hai mặt thống nhất nhau, không thể tách rời nhau, cái này là điều kiện của cái kia và ngược lại. Đây là mối quan hện biện chứng, tương hổ và bổ trợ lẫn nhau. Hai yếu tố này luôn luôn đan xen vào nhau.
2.         Một số mô hình ê kíp lãnh đạo
            Việc xách định và định hình nên một ê kíp lãnh đạo có ảnh hưởng đến cả quá trình hoạt động sản xuất của toản bộ một tập thể đa tồn ta xung quanh nó. Có một số tiêu chí để định hình nên một ê kíp lãnh đạo như:
            - Theo động cơ hoạt động ta có ê kíp lãnh đạo chân chính và ê kíp lãnh đạo tiêu cực.
            - Theo tính chất của mối quan hệ giữa các thành viên ta có ê kíp lãnh đạo theo quan hệ bạn bè, ê kíp lãnh đạo theo quan hệ huyết thống
            a) Ê kíp lãnh đạo chân chính :
            Ê kíp này được hình thành và tồn tại dựa trên cơ sở của một động cơ chân chính, đúng đắn. Sự hình thành này hoàn toàn dựa trên nhu cầu và lợi ích chung của tất cả những thành viên trong ê kíp, của cả một tập thể cùng hoạt động. Đồng thời những lợi ích này cũng được hài hòa với những lợi ích mà ê kíp này mang lại cho xã hội.
            Theo mô hình này, các thành viên trong ê kíp hoạt động dựa trên tinh than hổ trợ, giúp đở lẩn nhau. Các hoạt động của từng thành viên nói riêng và của cả một ê kíp nói chung đêu tuân theo một quy tắc là lợi ích chung, những hoạt động này đề tuân theo một chuẩn mực nhất định của pháp luật, của xã hội. Ở mô hình này, các hoạt động của ê kíp không manh tính vụ lợi, không có hiện tượng bè phái hay các tệ nạn như tham ô, hối lộ
            Đây là một mô hình ê kíp lãnh đạo tích cực mà hiện nay chúng ta đang tích cực xây dựng trong các tổ chức. Từ những tổ chức doanh nghiệp đế tổ chức quản lý nhà nước.
            b) Ê kíp lãnh đạo tiêu cực :
            Không như mô hình tổ chức lãnh đạo chân chính, mô hình ê kíp lãnh đạo tiêu cực được xây dựng dựa trên cơ sở của một động cơ không tích cực mà thậm chí là tiêu cực. Ở mô hình này hướng đến sự thỏa mãn và đáp ứng lợi ích cá nhân của các thành viên trong ê kíp. Các lợi ích của cả tổ chức và của xã hội lại không được quan tâm.
            Thực chất đây là sự cấu kết giữa những người lãnh đạo để thực hiện hành động tham ô, trục lợi tiền của của nhà nước, của tập thể. Nó được xem như dạng “kết bè kết phái”. Động cơ và hoạt động của mô hình ê kíp này thường trái với các chuẩn mực chung của xã hội. Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều biện pháp để ngăn chặn sự phát triển của mô hình này nhằm mang lại cho xã hội một bộ mặt lãnh đạo trong sáng hơn.
            c) Ê kíp lãnh đạo theo quan hệ bạn bè :
            Ê kíp lãnh đạo này được xây dựng dựa trên cơ sở quan hệ bạn bè. Đây là một mô hình ê kíp lãnh đạo khá phổ biến. Ê kíp loại này có thể là một ê kíp lãnh đạo tích cực hoặc tiêu cực là hoàn toàn dựa trên động cơ hoạt động.
            Trong những năm qua, sự phát triển của các công ty cổ phần, các công ty trách nhiệm hữu hạn đã tạo điều kiện hình thành mô hình ê kíp này. Các thành viên trong ê kíp lãnh đạo là những người bạn thân có cùng chí hướng với nhau, cùng hợp tác và phát triển nên những công ty vừa và nhỏ cho đến những công ty lớn. Mang lại thu nhập cho bản than từng người trong ê kíp lãnh đạo, thúc đẩy nên kinh tế nước nhà phát triển. Có thể xem đây là một mô hình ê kíp lãnh đạo tích cực, chân chính.
            d) Êkíp lãnh đạo theo quan hệ huyết thống :
            Đặc trưng của mô hình ê kíp lãnh đạo này là tập hợp người của một dòng họ hay của một gia đình. Ta thường thấy mô hình ê kíp lãnh đạo theo quan hệ huyết thống là chế độ vua chúa phong kiến ở các nước phương Đông trước đây. Các tập đoàn kinh tế lớn cũng được tổ chức một ê kíp lãnh đạo này. Trong ê kíp lãnh đạo loại này, các thành viên trong dòng họ, trong gia đình sẽ giữ vai trò chủ chốt để điều hành công việc.
            Đối với mô hình ê kíp này, sự tương hợp tâm lý và phối hợp hành động hoàn toàn phụ thuộc và lợi ích của gia đình, của các thành viên trong gia đình, dòng họ. Tuy nhiên, hoạt động của mô hình ê kíp lãnh đạo này cũng phải tuân theo những chuẩn mực của pháp luật.

NGƯỜI QUẢN LÝ, LÃNH ĐẠO VÀ ĐỘNG CƠ LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐÔNG



I. Động cơ của người lao động:
- Động cơ là yếu tố thúc đẩy người lao động làm việc. Động cơ điều chỉnh hành vi của người lao động. Người lao động làm việc có hiệu quả hay không tùy thuộc vào việc người lãnh đạo phát hiện và hiện thực hóa động cơ làm việc của người lao động như thế nào.
- Động cơ làm việc của người lao động trong tổ chức là vô cùng phong phú và phức tạp, vì động cơ xuất phát từ nhu cầu của người lao động. Chính vì vậy, ở mỗi người lao động có những động cơ làm việc khác nhau. Có cá nhân thì làm việc để được thăng tiến, để có những vị trí quản lý nhất định trong tổ chức, để có quyền lực và khẳng định vị thế của mình trong tổ chức. Có những cá nhân làm việc tốt vì lòng tự trọng, vì danh dự của mình.
- Đối với người lao động, trong những thời điểm khác nhau thì động cơ làm việc cũng khác nhau. Điều quan trọng đối với người lãnh đạo là phải phát hiện ra được những động cơ bức xúc, quan trọng nhất đối với người lao động để giúp họ thực hiện nếu động cơ đó phù hợp với lợi ích của tổ chức và xã hội.
* Phân loại: Động cơ làm việc chính đáng và động cơ chưa chính đáng:
1. Động cơ chính đáng: Là động cơ kết hợp một cách hài hòa giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích của tập thể, ở phạm vi rộng hơn nó phải hài hòa với lợi ích của xã hội.
2. Động cơ làm việc không chính đáng: Là động cơ chỉ xuất phát từ lợi ích của cá nhân mà không phù hợp với lợi ích chung của tổ chức. Nó mang tính vụ lợi rõ rệt. Những động đó sẽ không được sự ủng hộ của các thành viên trong tập thể.
II. Các yếu tố liên quan đến động cơ làm việc của người lao động:
Người lao động nói chung có động cơ làm việc một cách tự nhiên. Động cơ này bắt nguồn từ một thực tế là mọi người đều mong muốn được khẳng định bản thân, được thành đạt, được tự chủ và có thẩm quyền đối với công việc của mình, cũng như muốn có thu nhập đảm bảo cuộc sống cá nhân sung túc. Tất cả những gì mà người quản lý, lãnh đạo cần làm là khai thác khả năng bẩm sinh của họ, điều mà bạn có thể thực hiện dễ dàng mà không tốn một xu nào. Bước đầu tiên là phải loại trừ những hoạt động tiêu cực có thể triệt tiêu động cơ làm việc tự nhiên của họ. Bước thứ hai là phát triển những yếu tố thực sự có thể thúc đẩy tất cả nhân viên làm việc. Bằng cách đó, người quản lý, lãnh đạo sẽ tận dụng được động cơ thúc đẩy làm việc tự nhiên của nhân viên.
1. Những nhân tố có thể triệt tiêu động cơ làm việc của người lao động:
- Gây không khí làm việc căng thẳng trong công ty.
- Đặt ra những đòi hỏi không rõ ràng đối với hoạt động của nhân viên.
- Soạn thảo quá nhiều qui định không cần thiết buộc nhân viên thực hiện.
- Yêu cầu nhân viên tham dự những cuộc họp không hiệu quả.
- Làm gia tăng sự đua tranh nội bộ giữa các nhân viên.
- Che giấu những thông tin quan trọng liên quan đến công việc của nhân viên.
- Chỉ trích chứ không góp ý xây dựng.
- Nhân nhượng đối với những cá nhân làm việc không hiệu quả, vì thế những nhân viên làm việc hiệu quả cảm thấy bị lợi dụng.
- Đối xử không công bằng với các nhân viên.
- Sử dụng lao động chưa phù hợp với trình độ của nhân viên.
2. Những nhân tố có thể tạo động cơ làm việc thật sự giúp nhân viên phát huy khả năng của người lao động:
- Nếu nhân viên của bạn phải làm một công việc đơn điệu và nhàm chán, bạn hãy tìm cách bổ sung thêm cho họ một chút hài hước và sự đa dạng.
- Cho phép nhân viên tự do chọn lựa cách thực hiện công việc của họ.
- Khuyến khích việc chịu trách nhiệm cá nhân, đồng thời tạo ra các cơ hội thăng tiến trong công ty.
- Đẩy mạnh việc giao lưu và hoạt động đội nhóm.
- Tránh những chỉ trích cá nhân gay gắt.
- Cho phép nhân viên chủ động trong công việc.
- Thiết lập các mục tiêu và nhiệm vụ mang tính thách thức cho tất cả nhân viên.
- Xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá phản ánh được sự gia tăng hiệu quả hoạt động.
III. Những mong muốn tự nhiên tạo nên động cơ làm việc hiệu quả của người lao động:
Bằng cách loại ra những yếu tố triệt tiêu động cơ làm việc và thêm vào những yếu tố thúc đẩy động cơ làm việc, người quản lý, lãnh đạo sẽ gợi mở được những mong muốn tự nhiên của nhân viên để họ làm việc với động cơ và hiệu quả cao nhất. Dưới đây là những mong muốn đó:
- Mong muốn hoạt động.
- Mong muốn sở hữu.
- Mong muốn quyền lực.
- Mong muốn khẳng định.
- Mong muốn thu nhập đảm bảo cuộc sống sung túc.
- Mong muốn thành đạt.
- Mong muốn được thừa nhận.
- Mong muốn làm được việc có ý nghĩa.
Vậy, người quản lý, lãnh đạo đừng cố gắng thay đổi từng cá nhân một, mà hãy thay đổi cả công ty của bạn bằng cách giảm bớt những yếu tố triệt tiêu động cơ làm việc và gia tăng những yếu tố thiên bẩm của nhân viên để người lao động tự thúc đẩy chính mình.

Sinhviennhansu.blogspot.com

Thuyết công bằng của John Stacey Adams



1.Giới thiệu chung.
Thuyết Công Bng là mt lý thuyết v s đng viên nhân viên do  John Stacey Adams, một nhà tâm lý hc hành vi và qun tr đưa ra vào nă 1963. Cũng như nhiu thuyết đng viên ni tiếng khác (Tháp cp bc nhu  cầu ca Abraham Maslow hay thuyết Hai yếu t động viên ca Frederick  Herzberg) Thuyết Công Bng ca Adams đưa ra nhng yếu t ngm và mang  tính biến đi tác đng đến s nhìn nhn và đánh giá ca nhân viên v  công ty và công việc ca họ.
2. Nội dung thuyết công bằng.
Lý luận về sự công bằng đề ra năm 1965, lý luận chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ so sánh giữa sự cống hiến của cá nhân đối với tổ chức và sự báo đáp mà mình nhận được từ tổ chức .
Adams cho rằng, đ thành viên ca t chc gi được nhit tình làm vic tương đi cao thì s báo đáp trong t chc phi công bng , hp lí, làm cho các thành viên của t chc cm thy s phân phi ca t chc là công bng.
S công bằng ấy được đánh giá bằng công thức:
Op/Ip=Oq/Iq
Op là cảm giác của người ta về sự báo đáp mà mình nhận được.
Oq là cảm giác về sự báo đáp mà đối tượng so sánh nhận được.
Ip là cảm giác của người ta về sự cống hiến của mình đối tổ chức.
Iq là cảm giác của người ta về sự cống hiến của đối tượng so sánh đối với tổ chức.
 Công thức này cho thy nếu t s gia s báo đáp và sự cng hiến ca mình v cơ bn tương đi vi t s gia s báo đáp và cống hiến ca đi tướngo sánh thì s phân phi ca t chc là công bng. nếu không là không công bằng . Có hai tình trng không công bằng, đó là:
Op/Oq< Ip/Iq
Tình trạng không công bng bt li cho mình, nghĩ là h cm thy mình làm vic vt v nhưng không bng người làm vic qua loa, lần sau không cn b sc na..  
Op/Oq  > Ip/Iq
Tình trng không công bng th hai là tình trạng không công bng có li cho mình. Nếu thành viên của tổ chức cảm thấy sự phân phối là không công bằng h s cm thy vui mng trong chc lát nhưng sau đó s lo lng tình trng không công bng này s nh hưởng đến s dánh giá của đng nghip đi vi mình, nh hưởng đến quan h gia mình đi vi nhng người khác trong tổ chc, do đó mà s cn thn trong công vic ca thi k tiếp theo. Điu này cũng  sẽ bt li cho vic huy động tính tích cc ca các thành viên trong t chc
Sự phân tích trên cho thấy theo lý luận về sự công bằng, con số tuyệt đối về sự báo đáp mà thành viên của tổ chức nhận được và mức độ tích cực của họ trong công việc không có mối quan hệ trực tiếp và tất nhiên. Điều ảnh hưởng đến hành vi của thành viên chỉ là sự so sánh mức độ cống hiến và sự báo đáp của tổ chức đối với họ và những người khác.
3. Ứng dụng của học thuyết trong công tác quản lý, lãnh đạo.
§  Thuyết công bằng kết hợp với các công cụ quản lý hiệu quả công việc có thể thu thập phản hồi để đánh giá và so sánh hiệu quả công việc của nhân viên, giúp nhận biết những hành vi nào góp phần tăng hiệu quả công việc và giúp tổ chức xây dựng được tiêu chuẩn cho những người giỏi nhất.
§  Tạo động lực làm việc cho người lao động, vì sự ghi nhận công việc kịp thời từ nhà quản lý hoặc giám sát là yếu tố động viên hàng đầu đối với nhân viên. Nếu một cá nhân nhận thấy bản thân được trả lương dưới mức đáng được hưởng, anh ta sẽ giảm nỗ lực của bản thân xuống để duy trì sự "sự cân bằng". Nếu anh ta nghĩ rằng đang được trả lương cao, anh ta sẽ cố gắng làm việc chăm chỉ hơn.
§  Quản lý nhân viên thông qua việc xem xét tương quan giữa tỷ lệ đóng góp và những kết quả nhận được của người lao động từ đó có những điều chỉnh phù hợp.

Sinhviennhansu.blogspot

Học Thuyết Quản Lý Nhóm Của George Elton Mayo (1880-1949)

I.Tiểu sử
Sinh ra ở Úc, đỗ tiến sĩ Logic học và Triết học năm 1899.
Từ 1911 đến 1919, ông là giảng viên và sau đó là giáo sư về logic học, luân lý học và triết học tại trường đại học Queenland của Úc.
Năm 1922, nhờ có sự tài trợ của quỹ Rốc-phe-lơ, ông di cư sang Mỹ, giảng dạy ở trường Đại học Pensivania.
Năm 1926, Mayo tham gia công tác giảng dạy ở trường Đại học Harvard với tư cách là phó giáo sư nghiên cứu công nghiệp, năm 1929 được phong là giáo sư không hạn chế nhiệm kỳ, đến 1947 nghỉ hưu.
Ông qua đời năm 1949 tại Anh.
II.Quá trình nghiên cứu
Elton Mayo hướng vào nghiên cứu các vấn đề tâm lý xã hội trong quản lý. Ông tìm hiểu sự hứng thú và mệt mỏi của người lao động trong quá trình sản xuất, nhu cầu của họ, đặc biệt là các nhu cầu tinh thần. Mayo phát hiện ra rằng các khuyến khích vật chất (bằng tiền) không phải lúc nào cũng làm nâng cao sản lượng, trái lại, sự quan tâm, thái độ chân thành, biết lắng nghe và phát huy sáng kiến của người lao động là những tác nhân quan trọng đối với việc nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Trong thời gian giảng dạy ở trường Đại học Pensivania, ông đã tham gia một nhóm nghiên cứu, đến nghiên cứu tại một nhà máy dệt tại thành phố Philadenphia. Lúc đó, tỉ lệ công nhân thay đổi nơi làm việc ở một phân xưởng tương đồi cao, mỗi năm lên tới 250%.
Mayo và một số kỹ sư chuyên nghiên cứu về năng suất lao động được mời đến giải quyết vấn đề này. Trong lúc nghiên cứu, họ tuân theo phương pháp phổ biến lúc bấy giờ là tìm mối quan hệ giữa điều kiện làm việc và kết quả công việc. Trong quá trình làm việc, họ thực hiện chế độ nghỉ giải lao giữa ca nên đã thành công trong việc giảm tỉ lệ công nhân thay đổi nơi làm việc từ mức 250% xuống mức 5%. Ông cho rằng chế độ nghỉ giải lao giữa ca đã giảm bớt tâm lý bi quan của công nhân nghĩ rằng công việc không có giới hạn, qua đó nâng cao tinh thần làm việc và năng suất lao động  của công nhân. Căn cứ vào kết quả của thí nghiệm này và kinh nghiệm nghiên cứu trước đó ông cho rằng vấn đề quản lý liên quan đến công nhân không thể chỉ giải thích  bằng một nhân tố mà phải nghiên cứu nó trong “Khoa học tâm lý của toàn bộ tình hình”.
Nghiên cứu trên sáu người phụ nữ trong 5 năm, thay đổi điều kiện làm việc thì ảnh hưởng đến tinh thần và năng suất lao động như thế nào. Những thay đổi đó là thay đỗi giờ làm việc, ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, giờ nghỉ dẫn đên kết quả thật bất ngờ, tinh thần và năng suất tăng cao hơn so với trước và trong lúc thực nghiệm (tức là năng suất lao động khi họ làm việc lại trong điều kiện ban đầu). Ông kết luận rằng công nhân bị thúc đẩy bới điều kiện tâm lý nhiều hơn điều kiện làm cơ sở vật chất làm việc.
Có sự hiểu ngầm giữa người lao động và người sử dụng lao động về sự chờ mong ở nhau mà Mayo gọi đó là hợp đồng tâm lý.
Có thể tăng động lực làm việc của công nhân bằng cách biểu hiện sự quan tâm đến họ.
Làm việc là một hoạt động tập thế, làm việc nhóm có thể tăng cường động lực của công nhân vì nó cho phép mọi người có thể tạo những mối quan hệ bền vững và sự tin tưởng giữa những công nhân.
 Công nhân được thúc đẩy bởi các khía cạnh xã hội cảu công việc, thể hiện qua việc các công nhân nữ được giao tiếp trong và ngoài giờ làm việc thì tăng động lực làm việc.
Công nhân  có động lực hơn khi được công nhận, cảm thấy an toàn và thuộc về nhóm.
Sự giao tiếp giữa công nhân và người quản lý ảnh hưởng đến tinh thần và năng suất của  người lao động.
Từ những nghiên cứu thực nghiệm Hawthorne nổi tiếng Mayo đã rút ra nhận định các quan hệ không chính thức có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của nhóm chính thức.
III.  Kết luận
Mayo là một trong những người đầu tiên  nghiên cứu mối quan hệ không chính thức của nhóm. Việc nghiên cứu này có ý nghĩa to lơn đối với tâm lý học xã hội, tâm lý học quản lý vì nó chỉ ra vị trí và vai trò của cơ cấu không chính thức trong các nhóm chính thức, nó cảnh tỉnh các nhà quản lý phải quan tâm đến vấn đề này trong quá trình hoạt động của nhóm.

Phương Tây và 3 học thuyết X Y Z

Quản trị nhân lực là một lĩnh vực cụ thể của Quản trị, nó xuất hiện rất sớm cùng với sự xuất hiện của loài người.


Khi nói đến Quản trị nhân lực chúng ta không thể không nhắc đến các học thuyết phương Đông được hình thành từ rất sớm là “Đức trị” của Khổng Tử và “Pháp trị” của Hàn Phi Tử, bên cạnh đó cũng có những học thuyết kinh điển của Phương Tây. Đó là học thuyết X và Y được Douglas Mc Gregor tổng hợp từ các lý thuyết quản trị nhân lực được áp dụng trong các xí nghiệp phương Tây. Học thuyết Z được W. Ouchi, một kiều dân Nhật ở Mỹ nghiên cứu phương thức quản lý trong các doanh nghiệp Nhật Bản và đưa ra.

Chúng ta sẽ phân tích lần lượt ba học thuyết kinh điển X, Y, Z trên để từ đó so sánh được ba học thuyết với nhau và so sánh được học thuyết Quản trị nhân lực Phương Tây và Phương Đông.


Thứ nhất là học thuyết X

Học thuyết X được Douglas Mc Gregor đưa ra vào những năm 1960, đó là kết quả của việc tổng hợp các lý thuyết quản trị nhân lực được áp dụng trong các xí nghiệp ở phương Tây lúc bấy giờ. Học thuyết X đưa ra giả thiết có thiên hướng tiêu cực về con người như sau:

- Lười biếng là bản tính của con người bình thường, họ chỉ muốn làm việc ít.

- Họ thiếu chí tiến thủ, không dám gánh vác trách nhiệm, cam chịu để người khác lãnh đạo.

- Từ khi sinh ra, con người đã tự coi mình là trung tâm, không quan tâm đến nhu cầu của tổ chức.

- Bản tính con người là chống lại sự đổi mới.

- Họ không được lanh lợi, dễ bị kẻ khác lừa đảo và những kẻ có dã tâm đánh lừa

Từ những giả thiết về bản tính con người nói trên, học thuyết X cũng cung cấp phương pháp lý luận truyền thống là: “Quản lý nghiêm khắc” dựa vào sự trừng phạt; “Quản lý ôn hòa” dựa vào sự khen thưởng; “Quản lý ngiêm khắc và công bằng” dựa vào cả sự trừng phạt và khen thưởng.

Học thuyết X cũng được khái quát theo ba điểm sau:

- Nhà quản trị phải chịu trách nhiệm tổ chức các doanh nghiệp hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu về kinh tế trên cơ sở các yếu tố như: tiền, vật tư, thiết bị, con người.

- Đối với nhân viên, cần chỉ huy họ, kiểm tra, điều chỉnh hành vi của họ để đáp ứng nhu cầu của tổ chức.

- Dùng biện pháp thuyết phục, khen thưởng, trừng phạt để tránh biểu hiện hoặc chống đối của người lao động đối với tổ chức.

Khi nhận xét về học thuyết X ta thấy rằng đây là học thuyết có cái nhìn mang thiên hướng tiêu cực về con người và là một lý thuyết máy móc. Theo học thuyết này thì các nhà quản trị lúc bấy giờ chưa hiểu hết về các mức nhu cầu của con người nên chỉ hiểu đơn giản là người lao động có nhu cầu về tiền hay chỉ nhìn phiến diện và chưa đầy đủ về người lao động nói riêng cũng như bản chất con người nói chung. Chính điều đó mà những nhà quản trị theo học thuyết X này thường không tin tưởng vào bất kỳ ai. Họ chỉ tin vào hệ thống những quy định của tổ chức và sức mạnh của kỷ luật. Khi có một vấn để nào đó xảy ra, họ thường cố quy trách nhiệm cho một cá nhân cụ thể để kỷ luật hoặc khen thưởng.

Tuy có những hạn chế như trên nhưng chúng ta không thể kết luận rẳng học thuyết X là học thuyết sai hoàn toàn vì những thiếu sót của học thuyết X xuất phát từ thực tế lúc bấy giờ - đó là sự hiểu biết về quản trị còn đang trong quá trình hoàn chỉnh. Như vậy, việc nhìn ra những thiếu sót của học thuyết X lại là tiền đê để cho ra đời những lý thuyết quản trị tiến bộ hơn. Từ khi xuất hiện cho đến nay học thuyết X vẫn có ý nghĩa và được ứng dụng nhiều nhất là trong các ngành sản xuất và dịch vụ. Học thuyết X giúp các nhà quản trị nhìn nhận lại bản thân để chỉnh sửa hành vi cho phù hợp và nó cũng trở thành học thuyết quản trị nhân lực kinh điển không thể bỏ qua để giảng dậy trong các khối kinh tế.


Thứ hai là học thuyết Y

Học thuyết Y cũng được Douglas Mc Gregor đưa ra vào những năm 1960, có thể coi học thuyết Y là sự “sửa sai” hay tiến bộ hơn về lý thuyết quản trị nhân lực. Xuất phát từ việc nhìn nhận được những chỗ sai lầm trong học thuyết X, học thuyết Y đã đưa ra những giả thiết tích cực hơn về bản chất con người, đó là:

- Lười nhác không phải là bản tính bẩm sinh của con người nói chung.

- Lao động trí óc, lao động chân tay cũng như nghỉ ngơi, giải trí đều là hiện tượng của con người.

- Điều khiển và đe dọa không phải là biện pháp duy nhất thúc đẩy con người thực hiện mục tiêu của tổ chức.

- Tài năng con người luôn tiềm ẩn vấn đề là làm sao để khơi gợi dậy được tiềm năng đó.

- Con người sẽ làm việc tốt hơn nếu đạt được sự thỏa mãn cá nhân.

Từ cách nhìn nhận về con người như trên, học thuyết Y đưa ra phương thức quản trị nhân lực như:

- Thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của cá nhân.

- Các biện pháp quản trị áp dụng đối với người lao động phải có tác dụng mang lại "thu hoạch nội tại”.

- Áp dụng nhưng phương thức hấp dẫn để có được sự hứa hẹn chắc chắn của các thành viên trong tổ chức.

- Khuyến khích tập thể nhân viên tự điều khiển việc thực hiện mục tiêu của họ, làm cho nhân viên tự đánh giá thành tích của họ.

- Nhà quản trị và nhân viên phải có ảnh hưởng lẫn nhau.

Như vậy từ nội dung của học thuyết Y ta thấy học thuyết này có tích cực và tiến bộ hơn học thuyết X ở chỗ nó nhìn đúng bản chất con người hơn. Nó phát hiện ra rằng, con người không phải là những cỗ máy, sự khích lệ đối với con người nằm trong chính bản thân họ.

Nhà quản trị cần cung cấp cho họ một môi trường làm việc tốt thì nhà quản trị phải khéo léo kết hợp mục tiêu của cá nhân vào mục tiêu tổ chức. Tức là làm cho nhân viên hiểu rằng để thỏa mãn mục tiêu của mình thì mình cần phải thực hiện tốt mục tiêu của tổ chức. Việc đánh giá nhân viên theo học thuyết Y này hết sức linh động, các nhà quản trị để cho nhân viên tự đặt ra mục tiêu, tự đánh giá thành tích công việc của mình, khiến cho nhân viên cảm thấy cảm thấy họ thưc sự được tham gia vào hoạt động của tổ chức từ đó họ có trách nhiệm và nhiệt tình hơn.

Tuy có những điểm tiến bộ như trên, học thuyết Y cũng có những hạn chế đó là việc tuân theo học thuyết Y có thể dẫn đến sự buông lỏng quá trong quản lý hoặc trình độ của tổ chức chưa phù hợp để áp dụng học thuyết này. Vì vậy học thuyết Y chỉ có thể được phát huy tốt trong các tổ chức có trình độ phát triển cao và yêu vầu sự sáng tạo như các tập đoàn kinh tế lớn như Microsoft; Unilever; P&G… Và cũng như học thuyết X, học thuyết Y cũng đã được coi là học thuyết kinh điển trong quản trị nhân lực, được đưa vào giảng dậy trong các khối kinh tế.


Thứ ba là học thuyết Z

Học thuyết Z được tiến sỹ W. Ouchi đưa ra vào những năm 70 của thế kỷ trước, học thuyết này được xây dựng dựa trên thực tiễn và lý luận. Học thuyết Z còn có một tên khác đó là “Quản lý kiểu Nhật” vì học thuyết này là kết quả của việc nghiên cứu phương thức quản lý trong các doanh nghiệp Nhật Bản từ năm 1973. Sau này học thuyết Z được phổ biến khắp thế giới vào thời kỳ bùng nổ kinh tế của các nước châu Á vào thập niên 1980.

Nếu như thuyết X có cách nhìn tiêu cực về người lao động thì thuyết Z lại chú trọng vào việc gia tăng sự trung thành của người lao động với công ty bằng cách tạo sự an tâm, mãn nguyện; tôn trọng người lao động cả trong và ngoài công việc. Cốt lõi của thuyết này là làm thỏa mãn và gia tăng tinh thần của người lao động để từ đó họ đạt được năng suất chất lượng trong công việc.

Xuất phát từ những nhận xét về người lao động trên, thuyết Z có nội dung như sau:

- Thể chế quản lý phải đảm bảo cho cấp trên nắm bắt được tình hình của cấp dưới một cách đầy đủ. Duy trì việc ra quyết định và nâng cao trách nhiệm tập thể bằng cách tạo điều kiện cho nhân viên tham gia vào các quyết sách, kịp thời phản ánh tình hình cho cấp trên. Để nhân viên đưa ra những lời để nghị của họ rồi sau đó cấp trên mới quyết định.

- Nhà quản lý cấp trung gian phải thực hiện được những vai trò thống nhất tư tưởng, thống nhất chỉnh lý và hoàn thiện những ý kiến của cấp cơ sở, kịp thời báo cáo tình hình với cấp trên và đưa ra những kiến nghị của mình.

- Đảm bảo chế độ làm việc lâu dài để nhân viên phát huy tính tích cực, khuyến khích họ đưa ra những phương án để nghị của mình.

- Nhà quản lý cấp trung gian phải thực hiện được vai trà thống nhất tư tưởng, thống nhất chỉnh lý và hoàn thiện những ý kiến của cấp cơ sở, kịp thời báo cáo tình hình với cấp trên và đưa ra những kiến nghị của mình.

- Đảm bảo chế độ làm việc lâu dài để nhân viên yên tâm và tăng thêm tinh thần trách nhiệm, cùng doanh nghiệp chia sẻ vinh quang và khó khăn, gắn bó vận mệnh của họ vào vận mệnh của họ vào vận mệnh của doanh nghiệp.

- Nhà quản lý phải thường xuyên quan tâm đến tất cả các vấn đề của người lao động, kể cả gia đình họ. Từ đó tạo thành sự hòa hợp, thân ái, không cách biệt giữa cấp trên và cấp dưới.

- Làm cho công việc hấp dẫn thu hút nhân viên vào công việc.

- Chú ý đào tạo và phát triển nhân viên.

- Đánh giá nhân viên phải toàn diện, rõ ràng, cẩn trọng và có biện pháp kiểm soát tế nhị, mềm dẻo, giữ thể diện cho người lao động.

Qua nội dung của học thuyết Z ta thấy tuy nó là một học thuyết khá hiện đại và là học thuyết phương Tây nhưng vì nó dựa trên sự quản lý của các doanh nghiệp Nhật Bản nên nó cũng có những đặc điểm tư duy phương Đông. Đầu tiên phải nói đến là người Nhật nói riêng và người phương Đông nói chung rất coi trọng sự trung thành và lòng tự trọng hay cái “tôi” cá nhân. Họ coi trọng điều đó hơn là tiền bạc trong nhiều trường hợp. Người Nhật đã vận dụng được điều đó để đưa vào phương pháp quản trị của mình. Bên cạnh đó người phương Đông thường luôn cố gắng hướng đến sự hòa hợp, trong học thuyết Z ta thấy sự hòa hợp của ba yếu tố đó là năng suất lao động, sự tin cậy và sự khôn khéo trong quan hệ giữa người với người. Đó là những điểm làm nên sự khác biệt cũng như thành công của học thuyết Z.

Tuy nhiên cũng như hai học thuyết X, Y học thuyết Z cũng có nhược điểm đó là tạo ra sức ỳ lớn trong nhân viên.

Khi so sánh ba học thuyết X, Y, Z ta thấy chúng không hề phủ nhận nhau mà sự ra đời của thuyết sau là sự khắc phục những mặt còn yếu kém của các thuyết trước.

Thuyết X thì nhìn theo thiên hướng tiêu cực về con người nhưng nó đưa ra phương pháp quản lý chặt chẽ.

Thuyết Y nhìn nhận con người hơi quá lạc quan nhưng nó cũng đưa ra cách quản lý linh động phù hợp với một số lĩnh vực có tri thức cao và đòi hỏi sự sáng tạo của nhân viên.

Thuyết Z còn có nhược điểm tạo sức ỳ trong nhân viên nhưng nó cũng đưa ra phương pháp quản lý hiệu quả dẫn đến sự thành công cho nhiều công ty và trở thành thuyết quản trị nhân lực kinh điển mà đến nay vẫn được áp dụng trong nhiều doanh nghiệp.

Và nếu nhìn tổng quan hơn ta thấy từ học thuyết X đến học thuyết Z, đó là một quá trình tự hoàn chỉnh về tri thức trong khoa học quản trị mà cụ thể là quản trị nhân lực. Điều đó thể hiện ước muốn của con người là đạt tới một trình độ quản lý nhân sự ưu việt nhằm đem lại những lợ ích thiết thực cho người lao động; cho doanh nghiệp và cho xã hội.

Khi so sánh học thuyết quản trị phương Đông và quản trị phương Tây ta thấy chúng giống nhau ở chỗ: các học thuyết này đều xoay quanh việc điều chỉnh hành vi của con người, lấy con người là trọng tâm của mọi lý thuyết. Mỗi học thuyết đều cố gắng phân tích để “nhìn rõ” bản chất con người để đưa ra những phương pháp điều chỉnh phù hợp. Các học thuyết còn giống nhau ở điểm là cố gắng tạo ra sự công bằng trong đánh giá, xử phạt, bằng các hệ thống chính sách khen, thưởng, kỷ luật của mình.

Sự khác biệt giữa học thuyết quản trị phương Đông và phương Tây là ở chỗ: Phương Tây lấy hiệu quả công việc làm mục tiêu, các học thuyết phương Đông thì đề cao “Đức” và “Tâm” của con người hơn.

Qua sự phân tích các học thuyết phương tây X, Y, Z ta thêm hiểu hơn về trị thức quản trị nhân sự. Mỗi học thuyết đều có chỗ hay chỗ còn thiếu sót, tuy nhiên do quản trị còn là một nghệ thuật, không cứng nhắc nên việc kết hợp các học thuyết trên là hoàn toành có thể và hiệu quả đến đâu là còn tùy thuộc vào mỗi nhà quản trị. Việc tìm hiểu các phong cách quản trị cũng cho nhà quản trị biết cách chọn cho mình quan điểm quản trị phù hợp với khu vực quản trị, điều này là quan trọng với nhà quản trị toàn cầu. 
 Saga