Showing posts with label lao động. Show all posts
Showing posts with label lao động. Show all posts

Quy Chế Đối Thoại Định Kỳ Trong Doanh Nghiệp

CÔNG TY
………………………………………
 

Số: …… /QĐ-……
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 


TPHCM, ngày…… tháng……năm 2014
 QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Quy chế đối thoại định kỳ tại nơi làm việc



HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN (hoặc TỔNG GIÁM ĐỐC, GIÁM ĐỐC) CÔNG TY …………………………
Căn cứ Bộ Luật Lao động năm 2012;
Căn cứ Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết Khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc;
Căn cứ Quyết định số ……/QĐ-…… ngày … tháng … năm … của Hội đồng thành viên (hoặc Tổng Giám đốc, Giám đốc) công ty ……… về việc ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc;
Xét đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thành viên (hoặc Tổng Giám đốc, Giám đốc) và Ban chấp hành Công đoàn cơ sở công ty ………,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này “Quy chế Đối thoại định kỳ tại nơi làm việc” của công ty……….
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Các ông (bà): Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc, Giám đốc, Chủ tịch Công đoàn, Văn phòng, Giám đốc các công ty thành viên (nếu có), phòng, ban, phân xưởng thuộc công ty và tập thể người lao động công ty chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- BCH.LĐLĐ quận 1;
- Phòng LĐTBXH quận 1;
- BCH CĐCS công ty;
- Lưu VP./.

TM. HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN (hoặc BAN GIÁM ĐỐC)
CHỦ TỊCH (TỔNG GIÁM ĐỐC, GIÁM ĐỐC)
(ký tên, đóng dấu)





QUY CHẾ ĐỐI THOẠI ĐỊNH KỲ TẠI NƠI LÀM VIỆC
(Ban hành kèm theo Quyết định số  ……/QĐ-…… ngày … tháng … năm 2014
của Hội đồng thành viên (hoặc Tổng Giám đốc, Giám đốc) công ty …………)
 
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng
1. Quy chế này quy định việc thực hiện phát huy quyền làm chủ của các thành viên trong công ty ………………. (gọi tắt là công ty), bao gồm các công ty thành viên, đơn vị phụ thuộc (nếu có), phòng ban, phân xưởng của công ty.
2. Đối tượng áp dụng của Quy chế này là Chủ tịch Hội đồng thành viên (hoặc Tổng Giám đốc, Giám đốc) hoặc người được ủy quyền hợp pháp tại các công ty thành viên, đơn vị phụ thuộc (nếu có), phòng ban, phân xưởng của công ty (sau đây gọi chung là người sử dụng lao động); Ban chấp hành Công đoàn cơ sở công ty; người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
Điều 2. Mục đích xây dựng Quy chế đối thoại định kỳ tại nơi làm việc
Nhằm tạo điều kiện trao đổi trực tiếp giữa người sử dụng lao động với người lao động hoặc Ban chấp hành Công đoàn với người sử dụng lao động để chia sẻ thông tin, tăng cường sự hiểu biết giữa người sử dụng lao động và người lao động, bảo đảm việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc theo quy định pháp luật.
Điều 3. Nguyên tắc thực hiện quy chế đối thoại định kỳ tại nơi làm việc
1. Người sử dụng lao động phải tôn trọng, bảo đảm các quyền dân chủ của người lao động tại nơi làm việc; được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật thông qua việc đối thoại định kỳ tại nơi làm việc của công ty.
2. Công ty xây dựng và thực hiện công khai, minh bạch quy chế đối thoại định kỳ tại nơi làm việc này nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động.
Chương II
NỘI DUNG, QUY TRÌNH ĐỐI THOẠI ĐỊNH KỲ TẠI NƠI LÀM VIỆC
Điều 4. Trách nhiệm tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc
1. Người sử dụng lao động chủ trì, phối hợp với Ban chấp hành Công đoàn cơ sở thực hiện đối thoại định kỳ tại nơi làm việc 03 tháng một lần để trao đổi, thảo luận các nội dung:
            a. Tình hình sản xuất, kinh doanh của công ty.
b. Việc thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy, quy chế và cam kết, thỏa thuận khác tại nơi làm việc.
c. Điều kiện làm việc.
d. Yêu cầu của người lao động, tập thể lao động đối với người sử dụng lao động.
e. Yêu cầu của người sử dụng lao động với người lao động, tập thể lao động.
f. Nội dung khác mà hai bên quan tâm.
Khoảng cách giữa hai lần đối thoại định kỳ liền kề tối đa không quá 90 ngày.
Thời gian tổ chức đối thoại định kỳ tại công ty được thực hiện vào tuần thứ 2 của tháng cuối mỗi quý.
Trường hợp thời gian tổ chức đối thoại định kỳ trùng với thời gian tổ chức hội nghị người lao động thì đơn vị không phải tổ chức đối thoại định kỳ.
2. Người sử dụng lao động có trách nhiệm:
a) Ban hành quy chế đối thoại định kỳ tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của Ban chấp hành Công đoàn cơ sở và phổ biến công khai đến người lao động để thực hiện;
b) Bố trí địa điểm, thời gian và các điều kiện vật chất cần thiết khác bảo đảm cho đối thoại;
c) Cử thành viên đại diện tham gia đối thoại;
d) Tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc;
3. Ban chấp hành Công đoàn cơ sở có trách nhiệm:
a) Tham gia ý kiến vào quy chế đối thoại định kỳ tại nơi làm việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;
b) Tổ chức bầu các thành viên đại diện cho tập thể lao động tham gia đối thoại tại hội nghị người lao động;
c) Phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức thực hiện đối thoại định kỳ tại nơi làm việc.
 Điều 5. Số lượng, thành phần, tiêu chuẩn thành viên tham gia đối thoại định kỳ tại nơi làm việc
1. Mỗi bên tham gia đối thoại quyết định số lượng thành viên đại diện của mình tham gia đối thoại (mỗi bên phải có ít nhất là 03 người).
2. Thành phần tham gia đối thoại gồm:
a) Người sử dụng lao động hoặc người được ủy quyền hợp pháp và các thành viên đại diện cho người sử dụng lao động do người sử dụng lao động cử;
b) Ban chấp hành Công đoàn cơ sở và các thành viên đại diện cho tập thể người lao động do hội nghị người lao động bầu;
3. Tiêu chuẩn thành viên tham gia đối thoại định kỳ tại nơi làm việc:
a) Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, thẳng thắn, là cá nhân tiêu biểu trong lao động sản xuất, kinh doanh;
b) Được người lao động tín nhiệm chọn là đại diện cho tập thể người lao động;
Điều 6. Quy trình đối thoại định kỳ tại nơi làm việc
1. Chuẩn bị nội dung, thời gian, địa điểm và thành phần tham gia đối thoại:
a) Sau 60 ngày kể từ ngày kết thúc lần đối thoại trước liền kề, người sử dụng lao động, Chủ tịch Công đoàn cơ sở tổng hợp nội dung và gửi nội dung yêu cầu đối thoại cho bên đối thoại;
b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được nội dung yêu cầu đối thoại, người sử dụng lao động và Chủ tịch Công đoàn cơ sở thống nhất nội dung, thời gian, địa điểm, thành phần tham gia đối thoại định kỳ tại nơi làm việc;
c) Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày hai bên thống nhất nội dung, thời gian, địa điểm, thành phần tham gia đối thoại định kỳ tại nơi làm việc, người sử dụng lao động ra quyết định bằng văn bản tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc. Quyết định tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc phải được gửi đến Chủ tịch Công đoàn cơ sở và các thành viên tham gia đối thoại ít nhất 05 ngày làm việc trước ngày tổ chức đối thoại;
d) Người sử dụng lao động và Chủ tịch Công đoàn cơ sở phân công các thành viên tham gia đối thoại của mỗi bên chuẩn bị nội dung, số liệu, tài liệu liên quan cho buổi đối thoại.
2. Tổ chức đối thoại:
a) Đối thoại định kỳ tại nơi làm việc được tổ chức tại địa điểm và thời gian đã thống nhất. Trường hợp người sử dụng lao động thay đổi địa điểm, thời gian đối thoại thì phải thông báo cho Chủ tịch Công đoàn cơ sở và các thành viên đối thoại định kỳ tại nơi làm việc biết trước ít nhất 01 ngày làm việc trước ngày tổ chức đối thoại ghi trong quyết định tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc;
b) Đối thoại định kỳ tại nơi làm việc chỉ được tiến hành với sự có mặt ít nhất 2/3 số thành viên đại diện cho mỗi bên. Trường hợp cuộc đối thoại không đủ 2/3 số thành viên đại diện cho mỗi bên, người sử dụng lao động quyết định hoãn cuộc đối thoại vào thời gian sau đó, song thời gian hoãn tối đa không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày tổ chức cuộc đối thoại bị hoãn;
c) Trong quá trình đối thoại, các thành viên tham gia đối thoại có trách nhiệm cung cấp thông tin, số liệu, tư liệu, trao đổi, thảo luận dân chủ các nội dung đối thoại.
3. Kết thúc đối thoại:
a) Người sử dụng lao động và Chủ tịch Công đoàn cơ sở lập biên bản cuộc đối thoại. Biên bản cuộc đối thoại ghi rõ những nội dung đã thống nhất và các biện pháp tổ chức thực hiện; những nội dung chưa thống nhất và thời gian tiến hành đối thoại những nội dung chưa thống nhất hoặc mỗi bên tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật lao động. Đại diện của hai bên ký tên, đóng dấu xác nhận nội dung biên bản. Biên bản cuộc đối thoại định kỳ tại nơi làm việc được lập thành 04 bản và có giá trị như nhau, mỗi bên tham gia đối thoại giữ một bản và hai bản gởi về lưu tại Văn phòng Công ty và Phòng Nhân sự Công ty;
b) Người sử dụng lao động có trách nhiệm niêm yết công khai biên bản cuộc đối thoại định kỳ tại nơi làm việc và đăng tải trên hệ thống thông tin nội bộ hoặc trang thông tin điện tử của Công ty.
Điều 7. Đối thoại khi một bên có yêu cầu
1. Trường hợp một bên có yêu cầu tổ chức đối thoại thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được nội dung yêu cầu đối thoại, người sử dụng lao động có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Ban chấp hành Công đoàn cơ sở tổ chức đối thoại.
2. Số lượng, thành phần tham gia đối thoại và trách nhiệm của các bên trong tổ chức đối thoại được thực hiện tương tự như đối thoại định kỳ tại nơi làm việc.
Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 8. Người sử dụng lao động có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ban chấp hành Công đoàn cơ sở công ty tổ chức thực hiện tốt Quy chế này.
Riêng tại các Công ty thành viên (nếu có), Ban Giám đốc và Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở thành viên căn cứ Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ và Quy chế này xây dựng Quy chế đối thoại định kỳ tại nơi làm việc cho đơn vị mình. (nếu công ty có công ty thành viên thì giữ nguyên nội dung này).
Điều 9. Các ông (bà): Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc, Giám đốc, Chủ tịch Công đoàn, Văn phòng, Giám đốc các công ty thành viên (nếu có), phòng, ban, phân xưởng thuộc công ty và tập thể người lao động công ty chịu trách nhiệm thi hành, tổ chức thực hiện Quy chế này./.


TM. HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN (hoặc BAN GIÁM ĐỐC)
CHỦ TỊCH (TỔNG GIÁM ĐỐC, GIÁM ĐỐC)
(ký tên, đóng dấu)




Văn bản hướng dẫn thực hiện chế độ thai sản - BHXH Lâm Đồng

Văn bản hướng dẫn chính thức của bên BHXH gửi cho công ty mình! bạn nào chưa có thì tham khảo thêm nhé!

link download 1: Tải Về Máy
link download 2: Tải Về Máy

xem thêm: Hướng dẫn chế độ thai sản tháng 05/2013

Chứng minh kê khai giảm trừ gia cảnh

Nhờ các ACE tư vấn cho mình trường hợp như sau:Nhân viên N mới tuyển vào công ty mình,  nhân viên N đã kê khai Đăng ký giảm trừ gia cảnh ở công ty cũ (công ty A) rồi, nhưng không có giấy tờ gì chứng minh việc này. Tuy nhiên, công ty A này đã bị đóng cửa, giải thể nên không thể xin giấy tờ hoặc xác nhận được. 

Vậy, nhân viên N phải tự đến Cục thuế để xin lại giấy chứng nhận đã Đăng ký kê khai giảm trừ gia cảnh hay có thể đăng ký lại ở tại công ty mới (công ty B)?
Nếu đăng ký lại thì có phải ghi là đăng ký bổ xung (ko được ghi là đăng ký lần đầu)? Tuy nhiên, theo mình hiểu đăng ký bổ xung tức là nếu có thêm người phụ thuộc phải ko?

Nhờ ACE nào có kinh nghiệm tư vấn giúp mình nhé!
Trả lời 1:

Chào Thuần,

Khi nhân viên đã báo với bạn là đã làm hồ sơ đăng ký mã số thuế thu nhập cá nhân rồi thì bạn vui lòng kiểm tra lại trên trang Thu Nhập Cá Nhân Online ---> vào phần tra cứu Mã số thuế để kiểm tra theo số chứng minh thư của nhân viên đó - theo địa chỉ đường link sau: http://tncnonline.com.vn/Pages/TracuuMST.aspx.

Nếu đã có mã số thuế rồi, bạn chỉ cần lấy mã số thuế đó để khai giảm trừ & quyết toán thuế hay khai thuế cho họ mà thôi.

Còn nếu chưa có, bạn có thể đăng ký lại cho họ. Vì hiện tại họ đang công tác tại đơn vị nào thì đơn vị đó có trách nhiệm đăng ký mã số thuế thu nhập cá nhân giúp họ.

Hy vọng thông tin của mình sẽ giúp ích được cho bạn.
Trả lời 2: 
Bạn có thể đăng ký lại ở công ty mới, đánh dấu vô chỗ đăng ký bổ sung cũng không sao hết, thời điểm giảm trừ được tính lùi 30 ngày kể từ khi đăng ký hoặc thời điểm phát sinh quan hệ nuôi dưỡng (ví dụ con sinh tháng 01/2013, đăng ký vào tháng 05/2013 vẫn được giảm trừ từ tháng 01/2013).
Thân mến!
 Trả lời 3 :

Dear bạn Thuần,
Như bạn Hieu Nguyen đã chia sẻ rất chính xác. Tuy nhiên, điều đó chỉ đủ đối với người nộp thuế (đã có mã số thuế) nhưng chưa đủ đối với những người phụ thuộc mà trước đó người nộp thuế đã kê khai. Tốt hơn hết, người nộp thuế ( nhân viên) nên liên hệ với cty cũ để xin lại các thông tin đã kê khai (bản sao). Nếu kê khai lại (chậm) cho những người phụ thuộc, sẽ bị ảnh hưởng đến người nộp thuế (tùy theo mức lương cao/thấp, số người phụ thuộc nhiều/ít).
HR Groupmail

Những ngành nghề đang "khát nhân lực"


Những nghề thuộc nhóm ngành Cơ khí, Điện, Hóa chất, Kỹ thuật nông lâm nghiệp, Kỹ thuật thủy sản, Công nghệ địa chất - Vật lý, Toán, Thống kê, Công nghệ sinh học, Xã hội học…..vẫn có nhu cầu rất lớn.
Theo khảo sát của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM, những nghề đang cần và còn thiếu nhiều nhân lực trong năm 2013 gồm: Công nghệ thông tin, Điện tử công nghiệp, Chế biến thực phẩm, Hàn công nghệ cao, Thiết kế đồ họa, Tạo mẫu và vẽ thiết kế trên máy tính...Công nghệ ô tô, cơ khí (tiện, phay, bào, hàn), Công nghệ thông tin, điện tử, thiết kế thời trang (vẽ mỹ thuật, hình họa, ký họa, thiết kế áo đầm, thiết kế rập, thời trang trẻ em, áo dài...), Nhà hàng khách sạn và các nghề lái xe, điện lạnh, thẩm mỹ…
Ông Trần Anh Tuấn Phó giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM cho biết, mặc dù lượng nhu cầu cho các ngành nghề vẫn còn cao nhưng chỉ có khoảng 80% sinh viên, học viên sau khi tốt nghiệp các trường ĐH, CĐ, trung cấp, sơ cấp nghề tìm được việc làm. 20% còn lại tìm việc rất khó khăn.

"Trong tổng số tìm được việc làm chỉ có 50% là có việc làm phù hợp năng lực và phát triển, 50% thật sự ổn định. Đặc biệt kỹ năng mềm là yêu cầu nhiều sinh viên, học sinh chưa đáp ứng được" - lời ông Tuấn.


Qua nhiều cuộc khảo sát cho thấy, tỷ lệ học sinh chọn sai ngành học chiếm khoảng 60%, chỉ có 5% học sinh có hiểu biết về ngành chọn học, 20% có hiểu biết tương đối đầy đủ và 75% thiếu hiểu biết về nghề bản thân chọn học, việc sinh viên tốt nghiệp ĐH không tìm được việc vẫn còn khá phổ biến.


Tỷ lệ nhu cầu nhận lực của TPHCM giai đoạn 2012- 2015

Vì vậy, SV muốn có được việc làm sau khi tốt nghiệp cần lưu ý những vấn đề sau: xu hướng việc làm của thị trường lao động; định hướng về sở thích, sở trường nghề nghiệp. Các quy định thi tuyển, xét tuyển Đh, CĐ, trung cấp, dạy nghề; chọn ngành, chọn trường phù hợp năng lực học và điều kiện kinh tế gia đình...

Học sinh không nên quyết tâm vào ĐH bằng mọi giá, tránh tình trạng khi vào học hoặc học xong ĐH có chán nản vì không đúng ngành nghề yêu thích. Trường hợp chọn trường tại chức thì vẫn có thể học liên thông (CĐ là 1,5 năm, ĐH là 3 năm) và cơ hội việc làm rất lớn.

"Hiện nay, nhiều cơ quan, doanh nghiệp tuyển người có trình độ ĐH chỉ khoảng 10-12 %, còn hệ tại chức và CĐ tuyển rất nhiều. Phụ huynh cũng không nên có những định kiến, tâm lý trọng bằng cấp bắt ép con em vào ĐH mà bỏ qua các trường dạy nghề" - ông Tuấn cho biết.

Theo VietNamNet

Đánh Giá NV: Sự ghi nhận đúng lúc (Phần 1)


        Ngày nay có rất nhiều những câu chuyện xung quanh mối liên hệ giữa việc ghi nhận đóng góp của nhân viên (employee recognition) và việc giữ các nhân viên. Sẽ chẳng đáng ngạc nhiên nếu ngay tại lúc này có khoảng 3 trong số 10 nhân viên của công ty bạn sẵn sàng ra đi để tìm một công việc mới thú vị hơn và tốt hơn. Và gần một nửa trong số đó có ý định sẽ làm việc trong một công ty khác trong 3 năm tới. 
         Để tuyển thêm mỗi một người mới bạn sẽ phải tốn từ khoảng 2000$ - 100.000$ cho việc định hướng, đào tạo, và tuyển dụng họ; rõ ràng đây quả không phải là một khoản đầu tư nhỏ. Vậy tại sao những nhân viên này lại có thể sẵn sàng rời khỏi công ty bạn? Đơn giản là vì ở đây họ cảm thấy những việc mình làm không được ghi nhận một cách xứng đáng cho công việc của họ.

       Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự ghi nhận đóng vai trò rất quan trọng và các nhà quản lý nên làm điều đó một cách thường xuyên hơn. Roger Herman và Joyce Gioi - nhà nghiên cứu kinh doanh báo cáo các thông số đã chỉ ra rằng những công ty biết ghi nhận những đóng góp của nhân viên có kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn so với những công ty không ghi nhận đóng góp của nhân viên từ khoảng 30-40%.

        Bên cạnh đó, thế hệ lao động mới tại Mỹ, Thế hệ Y (“Generation Ys” – những người sinh ra từ năm 1980-1990) đang mang cuộc cách mạng số vào trong lực lượng lao động. Với công nghệ trong tay, Thế hệ Y đang làm quen với môi trường làm việc không bị giới hạn – ở đó không có sự hạn chế bởi những văn phòng chật chội. Mặc dù họ có thể không kết nối trên thực tế với nhau nhưng họ có thể kết nối với nhau qua công nghệ. Và họ quen với việc làm việc trong một thế giới mà ở đó, những sự nhận xét hay khen ngợi ngay lập tức chỉ là một cú nhấp chuột. Thay vì việc có thể nhắn tin và đánh chữ ngay lập tức thì tại sao họ phải đợi để nghe người khác nói rằng họ đang làm việc như thế nào?

        Tuy nhiên thì sự định hướng vẫn rất quan trọng đối với những người thuộc Thế hệ Y. Họ có tài năng về công nghệ số, nhưng để có thể làm việc trong các công ty khác thì họ cần phải phát triển cả những kỹ năng lãnh đạo thông qua sự hướng dẫn hay giám sát. Họ cần phải có sự hướng dẫn, phản hồi để có thể sử dụng khả năng của họ vào các việc giải quyết các vấn đề, các nhiệm vụ khó khăn và đem lại sự đổi mới cho công ty.

“Người sử dụng lao động cần phải nhận ra một điều cốt yếu là đối với thế hệ lao động này - ít nhất là khi họ còn là lực lượng lao động mới – luôn cần một chút quan tâm và đối xử đặc biệt. Họ sẽ không bao giờ chịu làm việc cả tháng mà không có nhận xét nào đối với họ, họ cần những phản hồi ngay lập tức đối với công việc của họ (và tất nhiên không phải là sự phê bình, hay chỉ trích.)”

      Đó là vấn đề của những đồng Đô-la, những đồng Cent. Các nhân viên, đặc biệt những người thuộc thế hệ Y thường muốn có sự phản hồi ngay lập tức và họ muốn được ghi nhận khi làm việc tốt. Sự đãi ngộ và ghi nhận sẽ đáp ứng nhu cầu này thông qua việc công nhận sự đóng góp của họ và thúc đẩy họ tiếp tục không ngừng tiến bộ. Việc ghi nhận đó sẽ khiến nhân viên hạnh phúc, có động lực để phấn đấu và gắn bó hơn với doanh nghiệp, điều đó mang lại lợi ích trong cả việc giữ chân các nhân viên cũng như lợi nhuận thu được cho doanh nghiệp.

       Ngày càng có nhiều công ty nhận ra tầm quan trọng của việc ghi nhận nhân viên và dành nhiều nguồn lực hơn cho các chính sách ghi nhận đóng góp của nhân viên. Trong năm 2006, tổng số tiền được các công ty Mỹ hoạt động trong lĩnh vực du lịch và buôn bán hàng hóa sử dụng cho chính sách ghi nhận đóng góp của nhân viên là 46.1 tỷ Đô-la Mỹ. Con số đó đã cho thấy một mức tăng đáng kể so với con số chỉ là dưới 30 tỉ Đô-la Mỹ được báo cáo trong cuộc khảo sát toàn diện của tổ chức Incentive Federation được thực hiện vào năm 2000.

       Với hình thức thưởng tiền này, các công ty hy vọng sẽ thu hồi được từ khoản đầu tư của mình và họ nhận ra rằng nếu chỉ có sự ghi nhận thôi thì sẽ không thể làm được điều đó. Để thực sự có hiệu quả, sự ghi nhận cần phải đáp ứng hai yếu tố cơ bản đó là phải đúng việcđúng lúc.

Biến những cách làm tốt nhất thành cách làm phổ biến nhất




      Các nhân viên nên được ghi nhận vì những việc làm và hành động theo đúng những cách làm tốt nhất (best practices) – đó là những cách làm đã được cho là tốt nhất, là chuẩn mực đáng tin cậy, đi cùng với và hỗ trợ cho những mục tiêu của doanh nghiệp. Nói đơn giản thì những cách làm tốt nhất chính là hành động và việc làm của những người giỏi nhất (top performers). Điều thành công nhất chính là khi những cách làm tốt nhất đó trở nên phổ biến trong công ty. Hãy phân tích những cách làm tốt nhất của bạn:

      Đầu tiên, xác định những người giỏi nhất trong công ty bạn. Mọi người đều biết họ là ai - đó có thể là những người có doanh thu bán hàng cao nhất; là những người có khả năng cam kết thanh toán đúng hạn; hoặc là những người có khả năng giải quyết vấn đề của mọi người rất nhanh và nắm bắt các cơ hội tiếp theo.

      Thứ hai, hãy tìm hiểu cách mà những người giỏi nhất đó làm việc. Bạn có thể làm điều này bằng việc hỏi họ bốn câu hỏi cơ bản sau đây:

1. Việc này diễn ra như thế nào?

2. Điều gì mang lại vào thành công của anh?

3. Những khó khăn của anh là gì?

4. Nếu có thể thay đổi, chấm dứt hay làm thêm mọt điều gì đó thì anh sẽ chọn điều gì?

      Thứ ba, hãy xác định rõ những hành động và kết quả mà bạn mong muốn. Dựa trên những câu trả lời của bốn câu hỏi trên, bạn phải xác định ra hai hoặc ba hành động của những người giỏi nhất mà bằng những hành động đó họ đã đạt được kết quả mà bạn đang mong muốn. Hãy chọn hai hành động (chỉ số chất lượng) và một thông số kết quả (chỉ số hiệu suất). Ví dụ, trong việc bán hàng chúng tôi không thưởng cho nhân viên đơn thuần vì đã bán được hàng. Họ đã nhận được hoa hồng cho việc đó. Thay vào đó họ được thưởng vì đã đạt được 10 khách hàng quan trọng và thu được những kiến thức mà họ cần (hành động). Sau đó chúng tôi thưởng cho họ vì đã đạt được doanh số bán hàng đề ra (kết quả). Điều này có thể áp dụng cho toàn công ty chứ không chỉ trong việc bán hàng.

       Thứ tư, hãy thưởng cho nhân viên ngay lập tức khi họ đã làm đúng theo các hành động đó. Điều này nghe thì có vẻ dễ dàng. Nhưng các quản lý phải nhanh chóng quan sát, đánh giá, hướng dẫn và củng cố những hành động mới. Họ phải nhất quán trong việc thưởng, chỉ những hành động đáp ứng đủ các tiêu chuẩn đã nêu mới được thưởng.

       Cuối cùng, hãy nhân rộng hành động của những người giỏi nhất. Đừng đợi cho đến khi kết thúc chương trình mới làm điều đó. Đây là thời điểm mà bạn tăng tốc qua mặt các đối thủ cạnh tranh. Hãy tiếp tục nghiên cứu và áp dụng những cách làm việc tốt nhất trong suốt chương trình ghi nhận đóng góp của nhân viên để có thể nhanh chóng đạt được mục tiêu. Sau đó hãy nghĩ ngơi và lập một kế hoạch mới. Khi bạn bắt đầu lao vào một mục tiêu mới, hãy đặt ra một mục tiêu cao hơn, như vậy những việc bạn đang làm không phải là đầu tư để đạt được những mục tiêu tương tự một lần nữa.

Bạn làm cách nào để giúp những người khác học tập cách làm của những người giỏi đang làm?

Hãy xác định người để bạn học tập – là những người giỏi có nhiều cách độc đáo để đạt được mục tiêu đề ra.

Hãy tới nói chuyện với vài người trong số họ.

Hãy hỏi họ bốn câu hỏi đó cho đến khi bạn tìm ra điều gì làm nên sự thành công của họ - những cách làm tốt nhất.

Hãy xem xét những gì họ đang làm và hãy thưởng hay ghi nhận những việc làm tương tự của người khác.

Cũng nên thưởng cho những người trong phạm vi ảnh hưởng của họ (ví dụ như các quản lý, đồng nghiệp của họ và/hoặc hỗ trợ những người được coi là một phần của quá trình làm việc đó).


Còn tiếp
 
Vũ Minh Tuấn dịch
fli.fpt20.com/


 

Tiền lương là gì


Tiền lương là một hình thức của thù lao lao động. Đó là số tiền mà các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp trả công cho nhân viên chức theo số lương và chất lượng lao động của họ đã đóng góp.
Trong thực tế lương có hai loại là lương Net và lương Gross:
- Lương gross chính là tổng thu nhập của người lao nhận được, chưa trừ các khác khảon phải nộp như: BHXH, BHYT, BHTN và thuế TNCN (nếu có)...
- Lương net là lương mà người lao động nhận được sau khi trừ đi các khoản phải nộp như BHXH, BHYT, BHTN, thuế TNCN nếu có... ( thu nhập thực nhận được của người lao động)
Để công tác tổ chức tiền lương có hiệu quả cần tuân theoo những nguyên tắc sau:
-Phân phối theo lao động kết hợp với đảm bảo các nhu cầu cơ bản của các tàng lớp nhân dân.
-Tiền lương phải phù hợp với hoàn cảnh của mỗi quốc gia.
-Mức lương phải đảm bảo quan hệ đúng mức của mọi người lao động trong xã hội.
-Cần đảm bảo tiền lương thực tê và thu nhập thực tế ngày càng tăng.
-Thang bậc lương cơ bản được nhà nước quy định. Nhà nước khống chế mức lương tối thiểu nhưng không khống chế mức lương tối đa mà điều tiết bằng thuế thu nhập.

Tại sao lại có cấp bặc kĩ thuật, thang bảng lương trong việc tổ chức trả lương?

Cấp bậc kỹ thuật: là căn cứ để sắp xếp cấp bậc công việc và cấp bậc công nhân, nhằm xác định mức độ phức tạp, mức độ đòi hỏi độ chính xác của công việc, đòi hỏi cũng như tinh thần trách nhiệm trong công việc. Xác định mức độ thành thạo của người lao động với công việc mà họ đảm nhận.
Thang bảng lương: dùng để xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương ở các cấp bậc kỹ thuật khác nhau.

Tại sao lại có phụ cấp lương? Hãy chỉ ra một số loại phụ cấp lương mà bạn biết?

Các chế độ tiền lươngtrong chừng mực nhất định chưa thể hiện được hết các điều kiện lao động, điều kiện sinh hoạt vật chất khi sử dụng tiền lương chế độ. Do đó để bù đắp cào những ảnh hưởng này, đảm bảo thu nhập ngang nhau giữa những người lao động có trình độ như nhau, cũng như đảm bảo các điều kiện sinh hoạt vật chất, tinh thần, sức khỏe cho người lao động Nhà nước đề ra chế độ phụ cấp lương.
Một số loại phụ cấp lương:
-Đối với ngành công nghiệp bao gồm có: phụ cấp khu vực, phụ cấp thâm niên, phụ cấp lưu động, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp ưu đãi, chiến đấu, độc hại, phụ cấp làm thêm giờ...
-Đối với ngành dầu khí: phụ cấp đi biển, phụ cấp làm đêm, phụ cấp đọc hại,phụ cấp ăn ca, phụ cấp lưu động, phụ cấp trách nhiệm, chế độ trả lương thêm.

Theo bạn hình thức trả lương theo sản phẩm và trả lươg theo thời gian thì hình thức nào phản ánh thực chất hơn? Khi nào trả lương theo thời gian?

Trong hai hình thức trả lương, trả lương theo thời gian và trả lương theo sản phẩm, thì hình thức trả lương theo sản phẩm phản ánh thực chất hơn.
Vì doanh nghiệp chỉ quan tâm đến số lượng và chất lượng sản phẩm. Mà hình thức trả lương theo thời gian là hình thức tiền lương dựa vào thời gian làm việc và trình độ kỹ thuật của người lao động. Nhưng thời gian chưa thể quyết định lên hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp. Còn hình thức trả lương theo sản phẩm là hình thức tiền lương trả cho người lao động căn cứ trực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm của người lao động tạo ra.
Khi nào thì trả lương theo thời gian: Trả lương theo thời gian được áp dụng với công việc khó xác định kết quả lao động cũng như định mức lao động. Và trả lương theo thời gian kết hợp có thưởng để khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm vật tư tiền vốn.

nguồn: http://www.wattpad.com/