Showing posts with label Quản trị Năng lực và Tri thức. Show all posts
Showing posts with label Quản trị Năng lực và Tri thức. Show all posts

Phương pháp tư duy sáu chiếc mũ

“Sáu chiếc mũ tư duy” là một kỹ thuật có tác động rất mạnh mẽ do Edward de Bono tạo ra. Kỹ thuật này được sử dụng để xem xét các quyết định từ nhiều góc độ, giúp bạn tư duy khác biệt và có được cái nhìn toàn diện về một tình huống.
Nhiều người thành đạt tư duy từ một quan điểm tích cực và lý trí. Tuy nhiên, nếu họ không xem xét vấn đề từ một quan điểm xúc cảm, sáng tạo hay tiêu cực, họ có thể đánh giá thấp những cản trở đối với các kế hoạch, thất bại trong việc tạo ra những bước đột phá sáng tạo, và bỏ qua tầm quan trọng của các kế hoạch bất ngờ.
Ngược lại, những người bi quan có thể quá thủ thế, trong khi những người cảm tính có thể không xem xét các quyết định một cách bình tĩnh và lý trí.
Mỗi “chiếc mũ tư duy” là một phong cách tư duy khác nhau và kỹ thuật “sáu chiếc mũ tư duy” sẽ giúp bạn kiểm điểm các vấn đề từ nhiều góc độ, cho phép đưa ra những quyết định kết hợp được với tham vọng, tính hiệu quả, sự nhạy cảm và sự sáng tạo.

Các nhà quản lý nên chọn từng chiếc mũ khác nhau cho tình huống và các ưu tiên của bạn.

1. Mũ trắng.
Tập trung vào những dữ kiện có sẵn. Xem xét các thông tin bạn có và xem bạn có thể học được gì từ đó. Tìm ra những lỗ hổng kiến thức, thử lấp chúng hay xem xét chúng bằng cách phân tích những xu hướng đã qua và ngoại suy theo dữ liệu.

2. Mũ đỏ. Xem xét các vấn đề bằng cách sử dụng trực giác, tình cảm, và phản ứng mạnh mẽ. Thử tư duy xem những người khác phản ứng cảm tính như thế nào, và cố hiểu được phản ứng của những người không biết lỹ lẽ của bạn.

3. Mũ đen. Nhìn vào tất cả những điều tệ nhất của vấn đề, cố tìm xem tại sao vấn đề này không tiến triển. Điều này cho thấy rõ những điểm yếu của kế hoạch, cho phép bạn loại trừ hay sửa chữa chúng hay chuẩn bị những kế hoạch trù bị cho chúng. Điều này giúp cho kế hoạch của bạn linh hoạt hơn. Đây là một trong những lợi ích thật sự của kỹ thuật này, khi các vấn đề có thể được lường trước và ngăn chặn.

4. Mũ vàng. Đòi hỏi tư duy tích cực và lạc quan, điều này giúp bạn nhìn thấy các lợi ích của một quyết định. Nó giúp bạn vẫn tiếp tục bước tới khi mọi thứ trở nên khó khăn.

5. Mũ xanh lá cây. Bao gồm việc phát triển những giải pháp sáng tạo. Đây là một kiểu tư duy tự do mà trong đó có rất ít phê phán đối với các ý tưởng.

6. Mũ xanh da trời. Nhấn mạnh việc kiểm soát quy trình, và được những người chủ trì cuộc họp thể hiện. Khi đã hết ý tưởng, sử dụng tư duy kiểu mũ xanh có thể có ích, vì phương pháp sáng tạo này có thể kích thích việc tạo ra những ý tưởng mới.
 Nhượng Quyền Việt Nam

Tân sinh viên làm quen với phương pháp học tại Đại học

Khối lượng kiến thức giảng dạy ở bậc ĐH là vô cùng lớn, phương pháp giảng dạy và môi trường học tập cũng khác xa bậc học phổ thông. Vì vậy, các bạn sinh viên (SV) cần có được phương pháp học tập thích hợp để có thể tiếp thu hết khối kiến thức đồ sộ đó.

Bước vào ĐH, không ít các bạn tân SV bỡ ngỡ vì cách học, cách dạy mới. Do SV được coi là những con người đã trưởng thành, việc học và dạy ở ĐH nhấn mạnh đến sự tự giác và tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mỗi cá nhân, vì vậy, cách học ở ĐH luôn xoay quanh vấn đề:  làm sao để tự nỗ lực mà đạt kết quả học tập cao nhất.


Cách dạy ở ĐH


Đầu tiên, tân SV cần hiểu rõ cách dạy của các thầy cô bậc ĐH. Mặc dù cách dạy ĐH ở VN vẫn còn mang nhiều yếu điểm đè bẹp sự năng động của SV như cách dạy đọc chép của một số giảng viên, nhưng xu thế dạy của các thầy cô đang dần thay đổi theo sự phát triển của giáo dục. Thầy cô ở bậc ĐH đóng vai trò là người hướng dẫn, giải đáp thắc mắc, người đi trước trong ngành nghề truyền đạt lại kiến thức, kinh nghiệm cho người đi sau. Khối lượng kiến thức ở mỗi môn học là không hề nhỏ, bạn có thể dễ dàng thấy rõ điều này qua độ dày của những quyển sách trong chương trình ĐH.


Vì vậy, thời gian lên lớp của thầy cô chủ yếu là giải đáp các thắc mắc và hướng dẫn các tài liệu, các phần nên đọc trong học phần của môn học. Cần chú ý, vẫn biết cách học ở ĐH chủ yếu là tự học, tự tìm tài liệu, nhưng với số lượng tài liệu vô cùng lớn, khó mà SV có thể tự mò mẫm chính xác tài liệu thích hợp cho môn học. Vì vậy, cần có sự hướng dẫn của thầy cô trong việc học của SV.


Cách tìm kiếm - sử dụng tài liệu


Tài liệu, sách vở ở bậc ĐH cũng đồ sộ như khối lượng kiến thức cần tiếp thu. Thông thường, ở buổi học mở đầu của môn học, thầy cô sẽ giới thiệu các quyển sách cần dùng cho học phần, các quyển sách có thể tham khảo thêm. Bạn không cần mua tất cả những quyển sách này, nhưng nên họp nhóm và chia nhau mua đầy đủ các sách mà thầy cô nêu ra. Có thể, bạn không dùng hết kiến thức của sách, nhưng sẽ cần một vài điều, một vài công thức mà sách giáo trình không có. Vì vậy, lập
nhóm học tập cũng rất quan trọng trong việc học ở ĐH, sẽ được nói đến ở phần sau.

SV cần tham khảo thật kỹ ý kiến của thầy cô trước khi bắt đầu đọc một tài liệu nào đó. Không phải tài liệu đó không hay, mà có thể kiến thức viết trong tài liệu đó không phù hợp hay quá cao với chương trình mà môn học đang giảng dạy.


Lập nhóm học tập


Có một nhóm bạn cùng nhau học và hỗ trợ nhau trong học tập, sinh hoạt đời sống SV là điều nên và cũng có thể nói là cần thiết. Nhóm học tập sẽ giúp nhau cùng ôn bài khi thi, cùng nhau mua tài liệu. Học cùng nhau có thể tăng sự hứng thú khi lên lớp. Một thực tế là, cho dù bạn là SV siêng năng đến mấy, đời SV có những lúc bạn buộc phải vắng mặt trên lớp để
làm thêm hay tham gia một hoạt động xã hội nào đó. Lúc này, bạn sẽ thấy sự hỗ trợ từ bạn bè là quan trọng như thế nào.

Các vấn đề khác


Nhiều SV vẫn than phiền cách dạy ĐH ở VN vẫn còn mang nặng lý thuyết, thiếu thực hành. Không thể phủ nhận chương trình đào tạo còn nhiều yếu kém ở ĐH, nhưng thực tế, đã có những chương trình, hội nhóm, câu lạc bộ (clb) tại các trường được lập ra để SV trau dồi và rèn luyện những kỹ năng của mình. Ở các trường tự  nhiên - kỹ thuật là các Clb
Lập trình viên, robocon, các khối xã hội thường xuyên có những clb, hội nhóm phù hợp với chuyên ngành như  clb Tâm lý học, clb Nhà Sử học trẻ, clb Lí luận trẻ, Hội du khảo…

Vì vậy, học ở ĐH, SV cần chủ động đi tìm và "vồ" lấy kiến thức cho mình. Tại sao có những SV không biết thầy cô mình tên gì mà lại có những bạn được thầy cô biết tên? Nhìn lại, chìa khóa thành công ở bậc học ĐH không ở đâu xa, nó nằm trong chính bản thân người SV, chính là cách học chủ động, thái độ sống tích cực, lành mạnh và trách nhiệm với bản thân mình.

Hiếu Học

Hai bài học kinh nghiệm của Napoleon Hill


 


Napoleon Hill (Sinh ngày 26 tháng 10 năm 1883 - mất ngày 8 tháng 11 năm 1970) là một tác giả người Mỹ, một trong những người sáng lập nên một thể loại văn học hiện đại đó là môn "thành công học" (là khoa học về sự thành công của cá nhân). Tác phẩm được cho là nổi tiếng nhất của ông có tên "Suy nghĩ và làm giàu" (Think and Grow Rich) là một trong những cuốn sách bán chạy nhất mọi thời đại.

Trong sự nghiệp của mình, ông cũng từng được trở thành một cố vấn cho Tổng thống Franklin D. Roosevelt. Câu nói nổi tiếng thể hiện tư tưởng của ông là "Điều gì mà tâm trí có thể nhận thức và tin tưởng thì tâm trí có thể hoàn thành". Napoleon Hill được xem là người có ảnh hưởng rộng rãi nhất, mạnh mẽ nhất trong lĩnh vực thành công cá nhân.
Ông đã giúp cho hàng triệu người trên thế giới thành công và những quyển sách của ông có một ý nghĩa, vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc đời của rất nhiều doanh nhân thành công của Mỹ.
Sau đây là hai bài học kinh điển mà Napoleon Hill đã truyền đạt cho bao thế hệ tỷ phú trên thế giới:
Bài 1: Không ai có thể thành công nếu phó mặc cuộc sống cho số phận


Bạn chẳng cần phải là nhà chiêm tinh hay tiên tri mới đoán trước được tương lai của một ai đó. Bạn có thể nhìn thấy tương lai người khác bằng cách đặt cho họ một câu hỏi đơn giản: “Chính xác thì mục đích sống của bạn là gì - và bạn có kế hoạch gì để đạt được mục đích đó?”.Nếu bạn đặt câu hỏi này cho 100 người, thì 98 người sẽ trả lời đại loại thế này: “Tôi muốn kiếm được nhiều tiền và thành đạt hết mức có thể”.
Xét bề ngoài thì câu trả lời này nghe rất có mục đích, nhưng nếu nghĩ sâu hơn một chút, bạn sẽ thấy người trả lời thuộc tuýp người sống phó mặc cho số phận, họ sẽ chẳng bao giờ đạt được điều gì trong cuộc sống trừ những thành quả còn sót lại từ những người thực sự thành đạt - những người có một mục đích sống rõ ràng và có một kế hoạch cụ thể để đạt được mục đích đó.
Để thành công, ngay lúc này, bạn cần xác định chính xác các mục tiêu của bạn là gì và vạch ra các bước đi để đạt được những mục tiêu đó.
Nhiều năm về trước, tôi làm việc với một cộng sự tên là Stuart Austin Wier, người thành phố Dallas, Texas, Mỹ. Anh là cộng tác viên cho một tạp chí và chỉ sống từ công việc đó. Có thể anh sẽ vẫn tiếp tục công việc viết lách với mức lương còm cõi đó nếu như câu chuyện mà anh viết về một nhà phát minh không bất ngờ thôi thúc anh thay đổi cuộc đời mình.
Những người quen biết anh đều hết sức ngạc nhiên khi nghe anh tuyên bố sẽ từ bỏ nghề báo và tiếp tục con đường học vấn để trở thành luật sư về bằng sáng chế. Stuart không đặt mục tiêu trở thành một luật sư về bằng sáng chế thường thường bậc trung, mà trở thành “một luật sư giỏi nhất về bằng sáng chế tại Mỹ”. Anh hăng hái thực thi kế hoạch của mình và đã hoàn thành khóa học trong một khoảng thời gian kỷ lục.
Khi bắt đầu đi vào công việc mới, Stuart tìm những vụ kiện khó giải quyết nhất. Danh tiếng của anh nhanh chóng lan rộng trên khắp nước Mỹ. Dù giá phí anh đưa ra rất cao nhưng số người đề nghị anh tư vấn, tranh tụng mà anh phải từ chối (vì anh không có đủ thời gian cho tất cả) còn nhiều hơn số khách hàng được anh chấp nhận.
Người nào hành động có mục đích và có kế hoạch thường có nhiều cơ hội thành công. Làm sao cuộc đời có thể đem lại cho bạn điều gì nếu bản thân bạn không biết bạn muốn gì. Làm sao người khác có thể giúp bạn thành công nếu bản thân bạn cũng chưa xác định được mình phải thành công bằng cách nào. Chỉ khi có mục đích rõ ràng, bạn mới có thể vượt qua những thất bại và nghịch cảnh cản trở đường đi của bạn.
Một trong những doanh nhân sở hữu “nhượng quyền kinh doanh” (franchise) đầu tiên và thành công nhất tại Mỹ là Lee Maranz - một người biết rõ mình muốn gì và làm thế nào để đạt được điều mình muốn.
Là một kỹ sư cơ khí, Maranz đã phát minh ra máy làm kem tự động có thể làm ra kem mịn. Ông mơ ước có một chuỗi những cửa hàng kem trên khắp các bờ biển, và đã vạch ra một kế hoạch để biến ước mơ thành hiện thực.
Cũng như nhiều cá nhân khác cùng thời, Maranz đã gặt hái thành công cho mình bằng cách giúp người khác thành công. Ông đã giúp nhiều người mở cửa hàng bán kem bằng việc nhượng quyền kinh doanh. Đây là một ý tưởng mang tính cách mạng vào thời đó. Ông đã bán những chiếc máy làm kem theo giá vốn và kiếm lời từ việc bán máy trộn kem.
Kết quả ra sao? Đó chính là sự ra đời của chuỗi cửa hàng mà Maranz đã quyết tâm xây dựng trên toàn nước Mỹ. Ông nói: “Nếu bạn có một niềm tin mãnh liệt vào bản thân, vào những việc bạn đang làm, và việc bạn muốn làm, thì không có trở ngại nào là không thể vượt qua”.
Nếu bạn muốn thành đạt, hãy chọn hôm nay làm ngày chấm dứt kiểu sống phó mặc cho số phận. Hãy xác định một mục tiêu rõ ràng cho mình. Hãy viết mục tiêu đó ra giấy và khắc cốt ghi tâm nó. Hãy xác định rõ bạn cần lên kế hoạch như thế nào để đạt được mục tiêu đó. Hãy bắt đầu bằng việc ngay lập tức biến kế hoạch thành hành động.
Tương lai của bạn là do bạn tạo nên. Ngay lúc này, hãy là người quyết định tương lai mình.
Chính sự lựa chọn - chứ không phải cơ hội, quyết định số phận bạn!
Bài 2: Học cách sống cuộc đời của chính mình

Tâm hồn bạn sẽ chẳng bao giờ thanh thản nếu để người khác sống hộ cuộc đời bạn.Một thực tế không thể chối cãi là Đấng Sáng tạo đã ban cho chúng ta một đặc quyền trọn vẹn. Đó là đặc quyền làm chủ một thứ, và chỉ một thứ duy nhất: trí tuệ của chính chúng ta.
Hẳn là khi ban cho chúng ta đặc quyền này, Đấng Sáng tạo muốn khuyến khích chúng ta sống cuộc đời của chính mình, có những suy nghĩ của riêng mình và không để người khác can thiệp vào. Chỉ bằng cách sử dụng đặc quyền này vào việc kiểm soát trí tuệ và cuộc sống của mình, bạn mới có thể tiến tới những nấc thang thành công trong bất cứ lĩnh vực nào. Nếu thiên tài là người kiểm soát và định hướng được hoàn toàn trí óc mình thì đây cũng là phương cách có thể giúp bạn trở thành thiên tài.
Chúng ta từng nghe những câu chuyện về những con người nổi tiếng từng biến nghịch cảnh thành yếu tố thuận lợi. Họ đã vượt qua trở ngại để trở nên giàu có và nổi tiếng. Họ là những Henry Ford, Thomas Edison, Andrew Carnegie, Wilbur và Orville Wright… Tuy nhiên, còn nhiều người khác tuy không sánh bằng các vĩ nhân trên, nhưng họ cũng không chấp nhận thất bại.
Nhiều năm trước đây, một thanh niên trẻ tuổi từng phục vụ trong quân đội đến gặp tôi để xin việc. Anh ta kể rằng anh ta đang hết sức bất mãn và chán nản; rằng anh ta chỉ mong có cái để ăn và một nơi để ngủ qua đêm. Ánh mắt anh ta đờ đẫn vô hồn - một ánh mắt khiến tôi nghĩ rằng đối với anh ta, mọi hy vọng đều đã chết. Chàng trai này, nếu thay đổi thái độ sống, hoàn toàn có thể trở nên giàu có.
Tôi hỏi anh ta: “Anh có nghĩ cách để trở thành triệu phú không? Tại sao anh lại chấp nhận một cuộc sống nghèo khổ trong khi anh hoàn toàn có thể kiếm được hàng triệu đô la?”.
Anh ta đáp lại: “Ông đùa à? Tôi đang chết đói đây, và tôi chỉ cần một việc làm thôi”.
Tôi trả lời: “Tôi không đùa đâu anh bạn. Tôi hoàn toàn nghiêm túc đấy. Anh có thể kiếm được hàng triệu đô la, chỉ cần anh sẵn lòng sử dụng những tài sản mà anh đang có”.
Anh ta thốt lên: “Ông nói tài sản nghĩa là thế nào? Tôi chẳng có tài sản gì ngoài bộ quần áo trên người!”.
Dần dần, qua câu chuyện, tôi biết được anh ta từng là nhân viên bán hàng của công ty Fuller Brush nổi tiếng tại Mỹ trước khi gia nhập quân đội. Trong thời gian tại ngũ, anh làm công việc nấu nướng và nấu ăn khá giỏi. Nói cách khác, bên cạnh hai đặc điểm trời cho là một cơ thể khỏe mạnh và tư duy có thể thay đổi theo hướng lạc quan, tài sản của người thanh niên này còn bao gồm việc anh ta có thể nấu ăn và có khả năng bán hàng.
Tất nhiên, cả việc bán hàng lẫn nấu ăn đều không hứa hẹn đưa bạn vào hàng ngũ các triệu phú, nhưng điều cần lưu ý là chàng thanh niên này lại tự tách mình ra khỏi nhịp sống thường nhật của xã hội. Và anh ta hãy còn khá lạ lẫm với nguồn trí lực sẵn có của mình.
Trong hai giờ trò chuyện với người thanh niên này, tôi nhận ra sự chuyển biến ở anh ta từ một người bi quan, thất vọng thành một người có suy nghĩ lạc quan hơn. Sự thay đổi lớn đó có được là nhờ sức mạnh từ một ý tưởng bất chợt: “Tại sao ta lại không tận dụng khả năng tiếp thị của mình để thuyết phục các bà nội trợ mời hàng xóm láng giềng của họ đến dự một bữa tối tại gia, rồi nhân cơ hội đó bán đồ dùng nhà bếp cho họ?”.
Tôi đã cho anh ta vay một số tiền đủ để mua vài bộ quần áo và trao cho anh ta bộ đồ dùng nhà bếp đầu tiên, sau đó mọi việc do anh ta tự quyết định. Trong tuần lễ đầu tiên, anh chàng bán sạch bộ đồ dùng nhà bếp bằng nhôm trị giá gần 100 đô la. Tuần kế tiếp, doanh thu tăng gấp đôi. Sau đó, anh ta bắt đầu hướng dẫn những nhân viên bán hàng khác bán những đồ dùng nhà bếp tương tự.
Bốn năm sau, anh ta kiếm được hơn một triệu đô la mỗi năm và bắt tay vào thực hiện một kế hoạch bán hàng táo bạo, mở ra một ngành công nghiệp dịch vụ mới cho nước Mỹ.
Khi những điều ràng buộc tâm trí con người được tháo gỡ, và con người làm chủ được hoàn toàn chính bản thân mình thì tôi cho rằng mọi nỗi lo sợ sẽ biến mất và người đó sẽ được hưởng niềm vui trọn vẹn trong cuộc sống!


Nguồn: nhuongquyenvietnam.com

TRẮC NGHIỆM "KỸ NĂNG XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ"

TTO - Xây dựng mối quan hệ là một trong những kỹ năng quan trọng giúp bạn tiến xa trong sự nghiệp. Bạn có tự tin mình thành thục kỹ năng này?

Bài trắc nghiệm dưới đây sẽ giúp bạn đánh giá khả năng xây dựng mối quan hệ của mình:
 
1. Khi gặp người lạ ở một sự kiện xây dựng mạng lưới quan hệ như cuộc hội thảo, bữa tiệc gây quỹ từ thiện hay hoạt động giao lưu giữa các công ty, bạn nên nói chuyện về:
 
A. Thời tiết, thể thao, phim ảnh hay sở thích chung một cách ngẫu nhiên;
 
B. Lịch sử ngắn gọn công việc và cơ hội bạn đang tìm kiếm;
 
C. Công việc của anh/cô ấy và lý do anh/cô ấy tham gia cuộc gặp mặt này;
 
2. Nếu bạn cảm thấy khó khăn khi bắt chuyện với người khác trong sự kiện, bạn nên:
 
A. Chờ cho tới khi có người tới bắt chuyện;
 
B. Thừa nhận với người ngồi/ đứng cạnh mình rằng bạn cảm thấy đôi khi những sự kiện như thế này rất kỳ cục và hỏi lời khuyên của người đó về cách làm quen với người khác;
 
C. Cố gắng gặp gỡ những người xung quanh bàn ăn và nói chuyện về thức ăn, đồ uống;
 
3. Bạn cho rằng người giao tiếp giỏi là người:
 
A. Đặt ra những câu hỏi thú vị cho người khác;
 
B. Nói chuyện một cách thoải mái về những chủ đề khác nhau;
 
C. Luôn lên tiếng khi người khác không biết nói gì;
 
4. Cách tốt nhất để thể hiện sự tôn trọng với những gì người khác nói là:
 
A. Khen ngợi những gì anh/cô ấy nói;
 
B. Đề nghị những người khác tham gia cuộc nói chuyện để nghe câu chuyện của anh/cô ấy;
 
C. Tập trung lắng nghe, tương tác qua lại qua cử chỉ và đặt ra những câu hỏi liên quan tới câu chuyện của anh/cô ấy;
 
5. Khi chuẩn bị tham gia một sự kiện xây dựng mối quan hệ, bạn nên:
 
A. Cập nhật những sự kiện đang nóng, vấn đề kinh tế - chính trị thế giới, xu hướng kinh doanh, phương thức lãnh đạo, quản lý;
 
B. Yêu cầu ban tổ chức cung cấp danh sách khách mời tham gia và tìm hiểu lý lịch của họ;
 
C. Sẵn sàng giấy bút để ghi lại thông tin liên lạc của mọi người;
 
6. Sau khi gặp gỡ, nói chuyện với một người nào đó, nếu bạn cảm thấy anh/cô ấy không có tiềm năng giúp đỡ mình trong tương lai, bạn:
 
A. Rút lui khỏi cuộc nói chuyện một cách lịch sự và tiếp tục gặp gỡ những người khác;
 
B. Tiếp tục nói chuyện và không đánh giá về người khác quá sớm;
 
C. Tiếp tục nói chuyện nhưng cố gắng thu hút những người khác tham gia để có thể gặp người mới;
 
7. Sau khi đã xác định những điểm chung và tin rằng bạn muốn dành nhiều thời gian hơn để nói chuyện với một người, bạn:
 
A. Đề nghị anh/cô ấy ra quán cà phê hoặc phòng khác để tiếp tục buổi nói chuyện;
 
B. Hẹn gặp anh/cô ấy sau;
 
C. Xin danh thiếp của anh/cô ấy và đề nghị liên lạc vài ngày sau;
 
8. Nếu trong sự kiện xây dựng mối quan hệ có người quan tâm và “theo đuôi” bạn khắp mọi nơi, bạn nên:
 
A. Lịch sự để anh/cô ấy tham gia tất cả các cuộc nói chuyện của mình;
 
B. Nói anh/cô ấy đi chỗ khác;
 
C. Nói rằng bạn phải gặp người khác hoặc cần đi vào phòng vệ sinh;
 
Đáp án:
 
1A. Dù đáp án C rất thích hợp khi bạn bắt đầu một cuộc nói chuyện với người lạ, nhưng thật bất lịch sự khi chăm chăm nói về công việc, chức vị, mức lương của người khác ngay trong lần đầu tiên gặp mặt. Thay vào đó, hãy nói về những chủ đề đời thường.
 
2B. Nếu bạn không thoải mái xây dựng mối quan hệ mới, thừa nhận điều đó với người bên cạnh sẽ giúp bạn “phá băng”. Mọi người sẽ giúp đỡ bạn. Họ sẽ giới thiệu bạn với những người khác và một cách tự nhiên, bạn sẽ dần cảm thấy thoải mái hơn.
 
3A. Trên thực tế, những người giỏi giao tiếp là người không cần nói nhiều. Họ biết đặt ra những câu hỏi hay để thu hút sự chú ý của người khác vào cuộc nói chuyện.
 
4C. Không tập trung là một trong những lỗi mọi người thường mắc phải trong sự kiện xây dựng quan hệ. Trong cuộc đối thoại, bạn nên liên lạc qua ánh mắt, tương tác qua lại bằng lời nói, cử chỉ và đặt ra những câu hỏi liên quan.
 
5A. Sẽ dễ dàng hơn để bắt chuyện với người khác nếu bạn biết về nhiều chủ đề. Hãy đọc thật nhiều về những chủ đề khác nhau, các sự kiện đương thời, xu hướng kinh doanh, vấn đề xã hội, thể thao, nghệ thuật…
 
6B. Hãy nhớ mục đích của việc tham gia các sự kiện xây dựng mối quan hệ là gặp gỡ những người mới, giúp đỡ họ khi có thể, học hỏi từ họ, thỏa mãn lợi ích chung hay thậm chí đơn giản chỉ là kết bạn. Bạn không nên quá thực dụng và đánh giá về người khác quá sớm.
 
7C. Sự kiện xây dựng mạng lưới quan hệ là sự kiện mang tính xã hội nhiều hơn là công việc đơn thuần. Cố gắng gặp gỡ càng nhiều người càng tốt, thu thập danh thiếp của họ và vài ngày sau liên lạc với họ, bắt đầu xây dựng mối quan hệ lâu dài hơn.
 
8C. Bạn có thể dễ dàng bị người khác “theo đuôi” trong một bữa tiệc hay hội thảo. Khi đó, hãy lịch sự tìm cách rút lui hoặc giới thiệu anh/cô ấy với người khác và dần rút ra khỏi cuộc nói chuyện của họ. Đừng để một người lấn át toàn bộ thời gian của bạn trong hoạt động xây dựng mối quan hệ.
 
Và sau đây là kết quả:
 
Nếu có từ 7 đáp án đúng trở lên: Bạn có kỹ năng xây dựng mối quan hệ xuất sắc, giúp bạn thành công trong việc thu hút các liên lạc mới. Nhưng bên cạnh lôi cuốn người mới, hãy để ý chăm sóc và nuôi dưỡng mạng lưới quan hệ hiện tại của bạn.
 
Nếu có 6 đáp án đúng: Chỉ cần cố gắng hơn một chút, trình độ xây dựng mối quan hệ của bạn sẽ hoàn hảo hơn. Hãy luyện tập thêm bằng cách làm quen, tạo dựng mối quan hệ mới bất cứ khi nào có cơ hội.
 
Nếu có dưới 6 đáp án đúng: Bạn cần luyện tập nhiều hơn nữa để tạo ấn tượng tốt với người mới. Bạn có thể tự luyện tập bằng cách tích cực tham gia các hoạt động xã hội hoặc tham gia khóa học nâng cao khả năng xây dựng mối quan hệ, kỹ năng giao tiếp.

VŨ HUYỀN (Theo Theladders)

Tri Thức Là Sức Mạnh

Bất cứ thành công nào có được trên đời cũng phải có sự đầu tư đúng đắn.

Thành công không tự đến, cũng không phải là thứ hàng có sẵn để chúng ta đưa tay với lấy, mà thành công là cái đích của một quá trình tích lũy lâu dài. Cũng như khi được sinh ra, chúng ta dần biết bò rồi mới biết đi, chúng ta cũng phải học hỏi dần để hoàn thiện chính mình khi bước vào đời. Chúng ta tiếp thu tri thức của nhân loại, học hỏi những kinh nghiệm từ người khác và cả từ những vấp ngã ban đầu...

           Tri thức dường như là một công cụ hữu hiệu không thể thiếu cho mỗi người trên con đường đến mục tiêu. Bạn đang mong ước điều gì cho cuộc đời mình: trở thành một doanh nhân, một kiến trúc sư hay thậm chí đơn giản là trở thành một ông bố, bà mẹ tốt? Không có điều gì tự đến khi ta không xác định mục tiêu cho mình để nhận diện về nó rõ ràng. vấn đề tiếp theo bạn cần làm đó là tìm kiếm kiến thức để giúp bạn đi đến mục tiêu này, bởi vì chỉ có kiến thức mới có sức mạnh biến ước mơ của bạn thành hiện thực và đem đến cơ hội thành công cao hơn bất kì phương cách nào khác.

           Chỉ cần bỏ ra mỗi ngày 30 phút để trau dồi kiến thức cho mình, bạn sẽ thấy những kết quả thực sự đang diễn ra. Hay bạn còn chần chờ vì một lý do khá phổ biến: "tôi biết đào đâu ra 30 phút mỗi ngày trong khi bận rộn hàng núi công việc như thế này?". Khi bạn nói điều này tức là bạn đang nói dối, mỗi ngày bạn tiêu phí thời gian cho việc mua sắm, vào việc "tám" trên điện thoại, facebook, xem phim... Sinh viên chúng ta ai cũng có mong muốn:" khi ra trường tôi muốn có việc làm, muốn có cơ hội thăng tiến..." mà bạn quên đi rằng, nếu bạn không có kiến thức thì chẳng bao giờ bạn có được những gì bạn mong muốn.
           Ngạn ngữ có câu: "Chúng ta không thể có những gì mơ ước nếu không bắt tay vào thực hiện chúng".
           30 phút mỗi ngày tương đương với 180 giờ mỗi năm. Nếu duy trì thực hiện được điều này một cách thường xuyên, bạn thử hình dung xem mình sẽ tích  lũy được bao nhiêu lượng tri thức sau ngần ấy thời gian. Giả sử bạn đọc xong một quyển sách trung bình trong 4 giờ, vậy trong một năm, với ngần ấy thời gian trích ra, bạn có thể đọc được 45 quyển sách. Thật bất ngờ phải không?
           Kiến thức là sức mạnh. Kiến thức giúp ta tự tin khi phải đưa ra những quyết định khó khăn và vững vàng trước nghịch cảnh. Vậy thì tại sao chúng ta không lên kế hoạch cho mình ngay từ bây giờ?

Sưu Tầm

Quản trị tri thức: Phương thức biến doanh nghiệp thành đế chế trường tồn

         Những giá trị, những lợi thế và sức mạnh cạnh tranh của mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp đang dần thay đổi. Thế giới đang ngày càng trở nên phẳng hơn bao giờ hết trong môi trường hội nhập quốc tế. Những rào cản xưa kia tưởng chừng không thể khoả lấp giờ đây chỉ còn là những vết mờ. Thời đại của công nghệ thông tin, thời đại của nền kinh tế tri thức đã thực sự định hình. Những nhân tố tạo ra sức mạnh cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp không còn là vốn đất đai, vốn tư bản, vốn tài chính hay vốn công nghệ mà nhường chỗ cho nhân tố vốn tri thức, là khả năng doanh nghiệp “nắm giữ bao nhiêu tri thức và sử dụng nó như thế nào để hiệu quả nhất”. Vốn tri thức và rộng lớn hơn nữa là Quản trị tri thức đang thực sự trở thành nhân tố chủ đạo tạo nên những bước tiến thần kỳ của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp.

          Tuy mới ra đời chỉ hơn 10 năm nhưng Quản trị tri thức đang trở thành xu hướng toàn cầu. Vị trí của ngành quản trị non trẻ này đã và đang được khẳng định bởi sự thành công của nhiều Tập đoàn hàng đầu thế giới trong việc ứng dụng. Dựa trên nền tảng triết lý quản trị tri thức, những giá trị vật chất và tinh thần, chỉ số lợi nhuận và giá trị thị trường của những công ty áp dụng đã khiến thế giới doanh nghiệp ngưỡng mộ. Tiêu biểu cho những bước tiến, sự phục sinh thần kỳ đó là các tổ chức hàng đầu như: IBM, Coca – Cola, Microsoft, Google hay Yahoo. Ở Châu Á, chúng ta cũng được chứng kiến những bước nhạy vọt đầy mạnh mẽ với một phương thức quản trị tương tự trên phạm vi quốc gia như Singapor, Hàn Quốc, Nhật Bản hay Malaisia. Trên phương diện tổ chức cả thế giới cũng bao lần kinh ngạc bởi một cái gọi là “Phương thức Toyota” dựa trên nền tảng quản trị tri thức Kaizen.

           Quản trị tri thức thực chất là một quá trình thúc đẩy cải tiến, khơi nguồn ý tưởng, khai thác một cách triệt để nguồn tài sản tri thức trong tổ chức, đồng thời là một quá trình chia sẻ, phát triển, lưu giữ tri thức liên tục nhằm cung cấp đúng lúc, đúng nơi và đúng người với mục đích đưa ra những quyết định nhanh chóng tạo nên những bước phát triển đột phá.

          Quản trị tri thức là phương thức tối ưu để ngăn chặn “nạn chảy máu chất xám” trong doanh nghiệp. Với mỗi tổ chức, nhân tài là nguồn tài sản vô giá nhưng cũng đồng thời là một nguồn tài sản đầy biến động. Mỗi khi một nhân viên giỏi ra đi không những gây ra sự xáo trộn mà nguy hiểm hơn tạo ra những khoảng trống không dễ lấp đầy, tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của tổ chức. Họ ra đi mang theo những kinh nghiệm, những bí quyết kinh doanh, những mối quan hệ và rồi trở thành đối thủ cạnh tranh, hoặc bị các công ty cùng lĩnh vực lôi kéo. Nhưng khi áp dụng quản trị tri thức, những tài sản bấy lâu nay nằm trong đầu nhân tài dưới dạng tiềm ẩn sẽ được chuyển sang tri thức hiện hữu qua phương thức chia sẻ và được cấu trúc lại để mọi người có thể học tập. Kết quả của quá trình này là tạo ra một “Kho tri thức hiện hữu” dùng chung cho tất cả thành viên, những cá nhân có khả năng thay thế cho nhau. Không còn đặc quyền về tri thức, không ngừng được làm giàu cho tri thức cá nhân là phương thức tối ưu cho mỗi doanh nghiệp giữ chân được nhân tài.

          Quản trị tri thức là phương thức tạo nên một tổ chức với những cá nhân năng động, một cấu trúc hệ thống học hỏi không ngừng với khả năng thích ứng cao. Vượt qua những giới hạn của phương thức quản trị truyền thống, quản trị tri thức giúp cho mỗi cá nhân trong tổ chức không ngừng học hỏi, biến những nhân viên lười nhác thành những con người sáng tạo tri thức liên tục. Dựa trên nền tảng tiêu chí chia sẻ và đánh giá tri thức đóng góp, quản trị tri thức tạo ra động lực tạo lập văn hoá chia sẻ giữa các thành viên trong tổ chức, thúc đẩy yếu tố tự học và tổ chức học tập suốt đời của doanh nghiệp. Trong môi trường văn hóa tri thức đó, khả năng của nhân viên được gia tăng hàng ngày, chất lượng tri thức của tổ chức không ngừng được hoàn thiện, chỉ số thông minh công ty SI cũng không ngừng được tăng cường. Hệ quả của quá trình này là một tập thể của những nhân viên năng động, làm việc qua chia sẻ tri thức, một tổ chức có khả năng thích ứng cao trong điều kiện hội nhập. (VD: Phương thức Toyota)

          Quản trị tri thức góp phần nâng cao khả năng ra quyết định của tổ chức. Trong thời đại ngày nay, thông tin không còn là tài sản độc quyền mà khả năng sử dụng và biến thông tin thành tri thức, thành sản phẩm mới là yếu tố tạo nên sự thành công của doanh nghiệp. Cơ hội trong kinh doanh chỉ là một khoảng khắc. Tổ chức nào ra quyết định nhanh nhất và chính xác nhất sẽ là người chiến thắng. Tuy nhiên trong quá trình ra quyết định, đa phần các tổ chức gặp phải vấn đề thiếu thông tin, thiếu cơ sở và thiếu tri thức để ra quyết định. Nhưng với quản trị tri thức tất cả những trở ngại đó sẽ được tháo gỡ. Quyết định là quyết định của tập thể, dựa trên nền tảng tri thức và kinh nghiệm của cả một tổ chức. Không ai mạnh bằng tất cả tập thể hợp lại là nguyên lý đã được chứng minh từ lâu. Coca – Cola là một ví dụ điển hình cho sự thành công trên phương diện này. Nhờ quản trị tri thức, họ đã tạo dựng nên một thương hiệu trường tồn và phổ biến khắp hành tinh.

         Quản trị tri thức là con đường tốt nhất để biến khách hàng thành những người bạn trung thành của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tồn tại là nhờ có khách hàng và với mục đích là phục vụ khách hàng. Nhưng làm thế nào để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng? Là câu hỏi không dễ với mọi doanh nghiệp. Khách hàng chỉ thực sự trung thành khi biết mình là một phần quan trọng của doanh nghiệp, là ông chủ thực sự của doanh nghiệp. Trong quản trị tri thức, thông qua mô hình CRM, các mối quan hệ khách hàng của tổ chức được chia sẻ với tất cả các thành viên. Các ý kiến đóng góp của khách hàng về sản phẩm, chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp đều được lưu giữ và tôn trọng. Dựa trên nguồn vốn tri thức từ khách hàng đó, doanh nghiệp có cơ sở không ngừng hoàn thiện chất lượng phục vụ khách hàng của mình. Nhờ quản trị tri thức, mối quan hệ khách hàng của mỗi cá nhân trở thành tài sản chung của doanh nghiệp, ý kiến của khách hàng cũng trở thành tài sản tri thức của tổ chức. Tiêu biểu cho sự thành công này là hiện tượng phát triển thần kỳ của Tập đoàn Dược phẩm Nabisxu với nguồn tài sản 8,4 tỷ USD chỉ sau 5 năm thành lập.

         Quản trị tri thức ngày nay đã trở thành xu hướng tất yếu của lịch sử. 80 – 95% giá trị của mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp không còn nằm ở tài sản hữu hình mà ẩn chứa trong nhân tố con người, vốn tri thức và những ý tưởng kinh doanh. Ở Việt Nam khái niệm vốn tri thức, quản trị tri thức tuy còn mới mẻ và chưa được nhận thức đầy đủ nhưng không phải vì thế chúng ta bỏ qua. Thay đổi hay là chết, hội nhập cùng thế giới, áp dụng quản trị tri thức để trường tồn hay trở thành kẻ bật bãi là sự lựa chọn của mỗi doanh nghiệp Việt Nam.

Ngô Phú Mạnh
Training & Consultancy Manager
GK Corporation
Email: ngophumanh@gkcorp.com.vn; manhnpcka@gmail.com
Website: vietnamlearning.vn

Quản lý tri thức (Knowledge Management)

TTCN - Không có gì đáng ngạc nhiên nếu từ “kinh tế tri thức” và “quản lý thông tin” nảy sinh một khái niệm mới nữa là “quản lý tri thức” (knowledge management), gọi tắt là “KM.”
       Theo tạp chí đầy uy tín Business Week của Mỹ, hơn 80% trong số 158 tập đoàn đa quốc gia đã và đang tích cực phát triển các chương trình KM trong nội bộ tập đoàn của họ.

       “Tri thức” không phải là “thông tin” hay “dữ liệu” (data). Theo hai tác giả Ethan M. Rasiel và Paul N. Friga, của Trí tuệ Kinsey (The Kinsey Mind), sách kinh điển của các công ty tư vấn, tri thức là “sự tổng hợp thông tin, kinh nghiệm và bối cảnh cụ thể trong một quá trình gia tăng giá trị.

        Quá trình này trước hết xảy ra trong đầu các cá nhân và có thể chia sẻ thông qua thảo luận hay dưới dạng tư liệu”. Khi chưa thành tư liệu thì tri thức được gọi là “tri thức chưa được mã hoá” (uncodified). Như vậy KM được định nghĩa là “một quá trình mang tính hệ thống, theo đó một tổ chức tối đa hoá giá trị của tri thức, kể cả mã hoá và chưa được mã hoá, trong tổ chức đó”.

         Nghe rất “sang trọng” và hết sức... khó hiểu. Chúng ta hãy lấy ví dụ một trường đại học. Một trong những chức năng quan trọng hàng đầu của trường đại học là… bán tri thức. Sinh viên chính là khách hàng của một loại hàng hoá đặc biệt: tri thức.

         Giáo sư là người cung cấp mặt hàng này dưới hai dạng: thảo luận với sinh viên về những vấn đề tri thức cụ thể (đó chính là cung cấp “tri thức chưa mã hoá”) và biên soạn giáo trình cho sinh viên hay hướng dẫn sinh viên đọc thêm những tài liệu chuyên môn (cung cấp những “tri thức đã được mã hoá”).

         Hiện nay do ảnh hưởng của kinh tế thị trường, mọi người thích nói đến “quản lý” và “quản trị” hơn. Chẳng hạn một môn học khá “sang trọng” hiện nay là môn quản trị kinh doanh (MBA).

         “Sang trọng” theo cả hai nghĩa: thứ nhất là học phí rất tốn kém, nhất là học với các trường “ngoại”; thứ hai là dân làm kinh doanh vốn bị xem là kém nhât trong quan niệm truyền thống lạc hậu (sĩ, nông, công, thương) nay có thể ngẩng mặt tự hào là đang theo học “thạc sĩ quản trị kinh doanh” hay nói gọn hơn là “học MBA”.

         Ngày nay danh xưng “học MBA” cũng tương đương với việc tự khẳng định mình “không những giàu mà còn có trí thức”.

        Tâm lý khoái “quản lý” hay “quản trị” cũng là hiện tượng toàn cầu. Ngay cả Hollywood cũng quan tâm lưu ý và tung ra bộ phim có tựa đề kỳ lạ Quản lý sự nóng giận. Trong khoa học xã hội hay những khoa học nửa tự nhiên nửa xã hội đang mọc lên như nấm trong xã hội Mỹ, danh xưng “quản lý” hầu như là một thứ bùa chú cần phải dán lên bất kỳ thứ gì có thể được: “quản lý chất lượng,” “quản lý thông tin,” “quản lý xung đột” thay vì là “giải quyết xung đột”, “quản lý chất thải” thay vì là “làm vệ sinh” như xưa nay.

         Chưa hết. Giáo sư còn phải có nhiệm vụ “tối đa hoá” hay “tối ưu hoá” các giá trị trong tri thức được cung cấp cho sinh viên nữa. Nếu “tri thức” mà một vị giáo sư cung cấp lại không có hàm lượng giá trị cao trong bối cảnh “quản lý thông tin” và “kinh tế tri thức”, bản thân vị giáo sư đó cũng nên được “tái đào tạo” hay “tái cấu trúc” (đổi sang nghề khác) trong môi trường quá nhiều áp lực cạnh tranh.

         Như vậy, chính thành phần giảng dạy trong một trường đại học đang thực hiện chức năng của những nhà “quản lý tri thức”. Một trường đại học chất lượng cao chính là một tổ chức tạo ra những điều kiện tinh thần và vật chất để phát triển tối đa công tác quản lý tri thức. Chỉ có điều cực kỳ nan giải hiện nay là nhiều giáo sư hay giảng viên chưa thể chuyển đổi “tri thức” của họ từ dạng “chưa mã hoá” (còn nằm đâu đó trong đầu) sang dạng có thể tích trữ, truyền bá và sử dụng được, tức là dạng “mã hoá.”

         Tiền bồi dưỡng cho việc biên soạn giáo trình còn quá “hẻo” và việc chi trả còn chậm hơn rùa. Do đó, thay vì đầu tư công sức vào việc biên soạn những “tri thức mã hoá” có thể làm nền tảng cho sinh viên tiếp tục phát huy, các giảng viên đổ xô đi dạy thêm để thoả mãn các nhu cầu cuộc sống, tức là chỉ lo “bán” những “tri thức chưa mã hoá,” thậm chí là “tri thức đã mã hoá nhưng của... người khác” cho sinh viên, vừa chắc ăn, vừa không phải gánh trách nhiệm nếu “giáo trình” in ra có quá nhiều thông tin lạc hậu, hàm lượng giá trị không cao.

         Tri thức mã hoá có vai trò quan trọng sinh tử đối với việc phát triển tính chuyên môn của bất kỳ lĩnh vực nghiên cứu nào. Chẳng hạn tri thức mã hoá của một trường đại học được lưu trữ dưới dạng cơ sở tư liệu về những công trình khoa học hay thông tin cơ bản trong hệ thống thư viện. Thí dụ, nếu chúng ta cần biết hiện nay những ai là chuyên viên trong một lĩnh vực nghiên cứu nào đó, cơ sở dữ liệu có thể cung cấp được ngay sau vài thao tác đơn giản trên phím máy. Chúng ta cần đọc một bài báo cáo mới đây trong một cuộc hội thảo của một vị giáo sư? Chỉ cần vài cú nhấp chuột. Nhưng đó chỉ mới nằm ở phạm vi truy cập thông tin. Còn nếu muốn “quản lý tri thức”, một tổ chức phải biết cách tối ưu hoá tất cả những nguồn tri thức, kể cả “mã hoá” và “chưa được mã hoá” đang tồn tại trong tổ chức hay ở bên ngoài tổ chức.

           Thí dụ, Jack Welch (từng là CEO của Công ty GE), nhân vật đầy huyền thoại trong thế giới kinh doanh Mỹ, luôn luôn tìm kiếm những ý tưởng hay nhất cho dù chúng đang ở đâu và mang chúng đến với công ty của ông. Jim Bennett, chủ tịch phụ trách nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ của Công ty Key Corp, cũng nói lên ý này: “Tôi luôn tìm kiếm những nhân viên tốt nhất. Khi phải giải quyết một vấn đề kinh doanh hóc búa, bạn cần tiếp cận với những người xuất sắc nhất, cho dù họ ở trong hay ngoài công ty”.

          Còn cách “quản lý tri thức” hiện nay của các trường đại học VN thì sao? Theo chỗ tôi biết, việc tuyển chọn “nhân tài” tại các trường đại học từ xưa đến nay dựa nhiều vào cơ sở quen biết, cảm tính và... nghe nói. Thậm chí việc quản lý các cơ sở vật chất trong các tổ chức, trên phạm vi quốc gia, vẫn còn gặp quá nhiều vấn đề nan giải, chưa thể nói gì đến “quản lý tri thức”.

         Khoa học kỹ thuật đã tiến đến mức việc chuyển giao tri thức không còn đòi hỏi một quĩ thời gian quá lớn như xưa. Theo thiển ý, chỉ cần tiến hành những việc sau đây:

         1- Đầu tư vào việc đào tạo liên tục cho những nhà “quản lý tri thức” của các trường đại học, cụ thể là ban giám hiệu và thành phần giảng viên, giáo sư. “Liên tục” tức là không ngừng và đưa vào chương trình chính qui. Mỗi năm các nhà quản lý phải tham gia một khoá học hay bồi dưỡng đặc biệt kéo dài ít nhất một tuần lễ. Mời chuyên gia nước ngoài tham gia giảng bài. Thậm chí lập ngân sách tạo điều kiện cho giảng viên tham gia các hội thảo chuyên môn ở nước ngoài.

          2- Thay vì bỏ tiền đầu tư cho “chất xám” du học vừa tốn kém vừa có khả năng bị mất chất xám, nên ký hợp đồng mời các chuyên gia nước ngoài sang giảng dạy dài hạn. Đây là phương pháp của Thái Lan, Singapore, Malaysia, Đài Loan, Hong Kong rất có hiệu quả vì rút ngắn thời gian “quản lý tri thức” khá nhanh, kích thích các giảng viên bản xứ phải nỗ lực hơn, phải tham gia tích cực hơn vào các công trình hợp tác nghiên cứu khoa học với chuyên gia nước ngoài. Như thế sẽ tránh được tâm lý “ếch ngồi đáy giếng” của không ít “học giả” trong nước. Đưa chuyên gia nước ngoài vào làm việc chính là đổ nước vào giếng cho “ếch” phải trồi lên cao vào vùng trời thênh thang của tri thức đang chờ đón.
 
Tuổi trẻ